Lấy bản thân tôi mà nói, tình hình hiện nay ở thành phố Gia Nghĩa đã có những dấu hiệu tiến bộ đáng kể so với hai mươi năm trước. ......Từ góc độ này, hội họa đóng vai trò hỗ trợ quan trọng cho lĩnh vực kiến trúc, các nghệ sĩ không cần quá lo lắng về sự cải tạo công trình. Các con đường trong thành phố cũng trở nên rộng rãi hơn. Trong bối cảnh của thời đại, những cải tạo vừa quan tâm đến vệ sinh vừa chú trọng thẩm mỹ, nhờ sự tiến bộ của giới nghệ thuật chúng tôi, cư dân thành phố cũng đã được trao tặng hạnh phúc.
— Trần Trừng Ba Lan, "Gia Nghĩa và Mỹ Thuật" (1935)
Năm 1935, kỳ thị Nhật Bản trên Đài Loan vừa tròn bốn mươi năm, Tổng Đốc phủ nâng cấp Gia Nghĩa thành thành phố trực thuộc châu. Lúc bấy giờ Trần Trừng Ba Lan, năm nay 40 tuổi, họa sĩ quê Gia Nghĩa (1895-1947) nhận lời mời từ Phòng Công vụ Thành phố Gia Nghĩa viết một bài luận mang đề tài "Gia Nghĩa và Mỹ Thuật". Trần Trừng Ba Lan xúc động trước sự xây dựng toàn diện của Gia Nghĩa, nơi đã có những tiến bộ vượt bậc so với hai mươi năm trước. Tuy rằng chúng ta không thể phủ nhận rằng bài viết này được đăng trên tờ báo chính thức, không tránh khỏi có sự phóng đại một số thành tựu xây dựng của chính quyền; hơn nữa, Trần Trừng Ba Lan cũng nhận thức được rằng đằng sau quá trình đô thị hóa, những công trình kiến trúc truyền thống và cảnh quan tự nhiên cũng sẽ bị hư hoại. Tuy vậy, trong bài viết ông vẫn thể hiện sự vui mừng của một họa sĩ đối với sự hiện đại hóa của quê hương.
Đọc thêm:
[Sau danh sách] Họa sĩ lão thành của giới nghệ thuật Đài Loan ngày xưa – "Tô Thu Đông" và những phong cảnh cơ Long do ông vẽ
Hai mươi năm trước mà bài viết nhắc đến, cơ bản là thời gian Trần Trừng Ba Lan tốt nghiệp từ Trường Quốc ngữ Tổng Đốc phủ (ngày nay là Đại học Sư phạm Đài Bắc), quay về Gia Nghĩa giảng dạy tại trường công. Ông làm việc ở quê hương trong một thời gian, sau đó năm 1924 thi vào trường mỹ thuật, rồi sang Đông Kinh du học. Sau khi tốt nghiệp, ông lại sang Thượng Hải, Trung Quốc, cho đến năm 1933 trở về Gia Nghĩa. Bài viết này có thể coi là sự nhìn lại quê hương sau những trải nghiệm tại các thành phố lớn như Đài Bắc, Đông Kinh và Thượng Hải.
Trần Trừng Ba Lan (Nguồn: Wikipedia / công cộng)
Đường phố hình tia và những hành khách đi bộ:
Trần Trừng Ba Lan và Caillebotte, những cảnh quan thành phố hiện đại tương ứng với nhau
Lúc bấy giờ Trần Trừng Ba Lan giống như "nhân vật lãng du" (hay còn gọi là Flâneur) mà nhà triết học Đức nổi tiếng Walter Benjamin (1892-1940) từng mô tả – một kẻ lang thang khắp các con phố nhỏ lớn của thành phố, không né tránh việc miêu tả những vật thể mà nhiều nghệ sĩ coi là xấu xí như cột điện, đèn đường, và bằng ngôn ngữ thị giác vừa hiện thực vừa lãng mạn, ông thể hiện sự thịnh vượng của quá trình hiện đại hóa thành phố. Những bức phác thảo nhanh về cảnh quan đô thị của Trần Trừng Ba Lan đã tích lũy thành một khối lượng khổng lồ, không chỉ là chủ đề sáng tạo quan trọng nhất trong đời ông, mà còn ảnh hưởng đến các họa sĩ thế hệ sau như Lâm Ngọc Sơn, Trương Nghĩa Hùng và những người khác.
Giống như Trần Trừng Ba Lan, từ thế kỷ trước, họa sĩ trường phái Ấn tượng Pháp Gustave Caillebotte (1848-1894) đã miêu tả trong kiệt tác "Đường phố Paris lúc mưa" (1877) những chiếc đèn khí chiếu sáng những con đường thành phố ngăn nắp, hiện đại hóa, cùng với những kẻ lãng du nhiều người đi dạo dưới mưa ở Paris, nhìn ngó khắp nơi. Tất nhiên, Caillebotte cũng là một trong những nhân vật lãng du này, ông say mê miêu tả cảnh quan đô thị, bằng cách dựng hình lạnh lẽo và tài liệu, ông ca ngợi cảnh quan thành phố mới nổi sau công nghiệp hóa.
Gustave Caillebotte. Paris Street, Rainy Day, 1877, Art Institute of Chicago (Nguồn: Wikipedia / Công cộng)
Cùng là những "nhân vật lãng du", Trần Trừng Ba Lan và Caillebotte đều lớn lên ở những thành phố thay đổi nhanh chóng dưới quá trình hiện đại hóa, đã chứng kiến quê hương biến thành một công trường khổng lồ, "hàng ngàn nhát dao, chặt hạ vô kể, mở màng bụng đất, nuôi sống hàng chục vạn người đào đất và thợ xây gạch" như nhà văn Émile Zola (1840-1902) đã miêu tả sinh động về thành phố hiện đại.
Thực tế, kinh nghiệm của hai người trong thành phố hiện đại hóa có thể truy ngược đến một nguồn gốc chung trong lịch sử. Từ những năm 1850 đến 1870, Paris trải qua các dự án cải tạo đô thị quyết liệt của Toàn quyền Seine Georges-Eugène Haussmann (1809-1891), được Nhật Bản giới thiệu sau Duy tân Minh Trị, rồi được cấy ghép vào Đài Loan thời kỳ Nhật trị từ cuối những năm 1900. Gia Nghĩa sau công tác chỉnh lý thành phố đã lần lượt thiết lập những quảng trường tròn, khiến người ta dễ dàng liên tưởng đến tác động của "dự án Haussmann".
Do vậy, sự thay đổi của thành phố đã được các nhân vật lãng du nắm bắt chắc chắn, vô tình tạo ra những điểm chung trong hình ảnh đô thị dưới bút họ. Quan sát cảnh quan đường phố Gia Nghĩa do Trần Trừng Ba Lan miêu tả – tác phẩm đoạt giải Triển lãm Mỹ thuật Đế quốc Nhật Bản "Cảnh quan đường phố mùa hè" (1927). Dù là những con đường hình tia hay những người đi bộ tận hưởng thành phố, đều có sự tương đồng với "Đường phố Paris lúc mưa". Hơn là giải thích đây là sự mô phỏng trong chủ đề, tốt hơn hết là xem xét mối liên hệ giữa những dự án quy hoạch đô thị ở hai nơi, cũng như cách tiếp cận tương tự mà hai vị họa sĩ sử dụng để đưa những cảnh quan hiện đại lạnh lẽo, cứng rắn vào tranh.
Tuy nhiên, dấu vết của hiện đại hóa đối với ảnh hưởng đến các họa sĩ Đài Loan thời kỳ Nhật trị không chỉ đến đây.
Trần Trừng Ba Lan, "Cảnh quan đường phố mùa hè", 1927, sơn dầu trên vải canvas, Bảo tàng Mỹ thuật Đài Bắc sưu tập (Nguồn: Wikipedia / công cộng)
Cột điện và ánh sáng: thay đổi hoàn toàn chủ đề mỹ thuật và cách nhìn nhận
Ngoài những không gian quảng trường và những con đường rộng rãi hình tia, hình ảnh đô thị do Trần Trừng Ba Lan miêu tả, những cái được đề cao nhất vẫn là những cột điện cao ngất và đèn đường. Do nhà thực nghiệp Akashi Shotaro (1874-1944) khởi xướng, Công ty Đèn điện từ năm 1912 đã lần lượt lắp đặt cột điện ở Vân Gia để vận chuyển điện lực, thắp sáng bóng tối về đêm. Hơn nữa, thành phố Đài Bắc nằm ở trung tâm của chế độ cai trị còn sớm vào đầu những năm 1900 đã hoàn thành việc lắp đặt dây điện và đèn đường ở một số khu vực.
Kể từ đó, những chiếc đèn đường với hình dáng đa dạng cùng với những con đường thẳng và cảnh quan quảng trường, trở thành những vân lý mới của thành phố Đài Loan, ánh sáng lại hoàn toàn thay đổi cách thể hiện và phát triển của nghệ thuật Đài Loan. Chẳng hạn, nhà họa sĩ Nhật Bản Gohara Kotoku (1887-1965) tới Đài Loan năm 1917, dạy học tại Trường Nữ Cao đẳng Thứ ba Đài Bắc (nay là Trường Trung học Nữ Trung Sơn), ông trong những năm 1920 hoàn thành bộ tác phẩm "Mười hai cảnh danh lam của Đài Bắc", sử dụng giấy vẽ kích thước nhỏ, miêu tả cảnh tượng sống động thịnh vượng của Đài Bắc lúc bấy giờ. Trong đó, "Cảnh tối của Tổng Đốc phủ" miêu tả cảnh cháy đèn sáng rực rỡ của Tổng Đốc phủ Đài Loan vào ban đêm: những cửa sổ của công sở trong tranh tỏa ra ánh sáng, hình dáng đèn đường tuân thủ phong cách trong những bức ảnh thời bấy giờ. Ánh sáng của ô tô chiếu sáng trước đường đi, thậm chí những chiếc xe đạp và xe kéo tay cũng được lắp đặt đèn giữa khung xe. Có thể cảm nhận được sự nhận thức mạnh mẽ của vị họa sĩ Nhật Bản sống ở phương Nam đối với hiện đại hóa và năng lượng điện.
Đọc thêm:
Quà tặng từ biên giới phương Nam: "Hoàng Thổ Thủy – Đường về", "Thạch Xuyên Khâm Nhất Lang – Lần Núi Cao" và những tác phẩm mỹ thuật Đài Loan có trong bộ sưu tập hoàng gia Nhật Bản
Gohara Kotoku (Nguồn: Wikipedia / công cộng)
Gohara Kotoku, "Mười hai cảnh danh lam của Đài Bắc" – "Cảnh tối của Tổng Đốc phủ", những năm 1920, kỹ thuật màu nước trên giấy, Bảo tàng Mỹ thuật Đài Bắc sưu tập (Nguồn: Kho ký ức văn hóa Quốc gia / CC BY-NC)
Không chỉ thế, sự phổ cập của điện còn ảnh hưởng đến cách thức xem triển lãm. Vào đầu những năm 1920, Đài Loan cũng bắt đầu xuất hiện những triển lãm vẫn tiếp diễn vào buổi tối. Thậm chí từ năm 1932 trở đi, trên báo chí thường xuyên có những tin đăng về Triển lãm Mỹ thuật Đài Loan kéo dài đến 21 giờ, ánh sáng ruc rỡ của điện cho phép khán giả có thể thưởng thức tranh một cách yên tĩnh vào buổi tối khi ít người tới, cũng trở thành một xu hướng xem triển lãm.
Sự xuất hiện của điện hóa còn mở ra nhiều khả năng chủ đề vẽ đa dạng cho thế hệ họa sĩ Đài Loan mới được các triển lãm tạo điều kiện. Họa sĩ Đài Trung Vương Nguyên Nam (1906-2002) trong tác phẩm được đoạt giải lần thứ 8 của Triển lãm Mỹ thuật Đài Loan "Buổi tối của phòng sách" (1934) đã dùng sơn dầu miêu tả phòng sách được chiếu sáng bởi đèn bàn vào ban đêm, thuộc về một trong số ít các tác phẩm có còn sót lại với chủ đề "buổi tối" có niên đại sớm trong những tác phẩm triển lãm chính thức của thời kỳ Nhật trị. Trên bàn trong tranh có chiếc đèn bàn trang trí hình lạc đà đang lữ hành sa mạc, ánh sáng vàng nhạt tỏa ra chiếu trên những con búp bê mặt ngoài quốc và gấu bông, tràn đầy phong cách kỳ lạ, lúc bấy giờ còn được các ký giả báo chí đánh giá như một tác phẩm "Nocturne (nocturne)" và do đó được công chúng biết đến.
Vương Nguyên Nam, "Buổi tối của phòng sách", 1934, sơn dầu trên vải canvas, Bảo tàng Mỹ thuật Đài Bắc sưu tập (Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Đài Bắc)
"Sống là nghệ thuật": Các họa sĩ hiện đại và sự cùng tồn tại với thành phố
Năm 1932, họa sĩ Nhật Bản Ozawa Akishige (1886-1954) tới Đài Loan du lịch, ông thường xuyên làm nhiệm vụ thẩm định viên Triển lãm Mỹ thuật Đài Loan, thường xuyên hoạt động giữa Đài Loan và Nhật Bản, lại đặc biệt tâm đắc với phong cảnh ba tuyến đường ở Đài Bắc thời kỳ Nhật trị, không những trưng bày những tác phẩm liên quan ở triển lãm Đài Loan, mà còn riêng biệt tổ chức triển lãm "Cột điện", miêu tả nhiều bức tranh về đường phố Đài Bắc và cột điện. Khi được phỏng vấn, ông tỏ ra không mặc cảm khi nói: "Cột điện thường bị coi là vật xấu xí làm hỏng phong cảnh, có rất nhiều ý kiến như vậy". Ngược lại, ông muốn dùng cột điện để đưa vào tranh những nét đường có sức hút.
Quan điểm của Ozawa Akishige chính là phơi bày những gì các họa sĩ thời bấy giờ đang thử: xây dựng một thẩm mỹ cùng tồn tại với sự phát triển của thành phố và cuộc sống của cư dân thành phố. Các họa sĩ nhận thức được rằng sự phát triển thành phố mang lại cho Đài Loan sự tiến bộ và thịnh vượng, mặc dù tính hiện đại phần nào phá hủy cảm giác thẩm mỹ được truyền đạt bởi tự nhiên và di tích cổ, tuy nhiên, họ lại chọn suy ngẫm cách hòa hợp với hiện đại, và trong hình ảnh đô thị lạnh lẽo, bằng những nét đường và nét bút tạo ra sự thú vị trong cách nhìn nhận.
Gohara Kotoku trong bộ sưu tập "Mười hai cảnh danh lam của Đài Bắc" đã miêu tả con phố Vinh đinh thời chiều tối ở Đài Bắc (ngày nay là đường Hành Dương): trên con đường bận rộn, dòng người vẫn sôi động, những cửa hàng xinh đẹp trang nhã trên phố bán những hàng hóa đa dạng; những cột điện được dựng hai bên lối cắt ngang bộ mặt công trình kiến trúc, những sợi dây điện dày đặc lướt ngang cao ơi như mạng nhện, cắt ngang và đan xen. Các nghệ sĩ như thể đang sử dụng tranh để tuyên bố rằng, sở dĩ cuộc sống hiện đại được hình thành, đều thể hiện ở những chiếc đèn đường và cột điện chưa từng thấy trước đây, những nét đường càng dày đặc, càng cho thấy sự thịnh vượng và tiến bộ của địa phương.
Gohara Kotoku, "Mười hai cảnh danh lam của Đài Bắc" – "Con phố Vinh đinh", những năm 1920, kỹ thuật màu nước trên giấy, Bảo tàng Mỹ thuật Đài Bắc sưu tập (Nguồn: Kho ký ức văn hóa Quốc gia / CC BY-NC)
Đúng như Trần Trừng Ba Lan nói vào năm 1935, lúc Gia Nghĩa nâng cấp thành thành phố năm năm kỷ niệm: "Trong bối cảnh của thời đại, những cải tạo vừa quan tâm đến vệ sinh vừa chú trọng thẩm mỹ, nhờ sự tiến bộ của giới nghệ thuật chúng tôi, cư dân thành phố cũng đã được trao tặng hạnh phúc". Kể từ cuối những năm 1920, các nghệ sĩ Đài Loan bắt đầu đối diện với tác dụng của nghệ thuật trong xã hội hiện đại, cho rằng hạnh phúc của cư dân đô thị gắn liền với cảm giác thẩm mỹ, do đó, phong cách kích lãng mạn hoài cổ không còn là chủ lưu trong giới mỹ thuật, cảnh quan thành phố được quan tâm, đèn đường và cột điện bắt đầu được vẽ.
Sự chấp nhận cuộc sống hiện đại được phản ánh trong sự điều hòa giữa cột điện, đèn đường và những cảnh quan cũ. Kéo dài đến hiện nay, cũng có thể thấy sự phát triển của năng lượng gió ngoài khơi đã khiến những chiếc quạt năng lượng gió trở thành một phần của cảnh quan bờ biển phía tây Đài Loan. Cánh đồng gió biển ở Chu Nam thường xuyên xuất hiện trong những bức ảnh về các hoạt động bờ biển, thậm chí trở thành một trong những điểm du lịch của chương trình tham quan địa phương.
Không chỉ cảnh quan địa lý, từ góc độ nghệ thuật, các họa sĩ một lần nữa biến hóa lại những tưởng tượng về điện. Giống như Ozawa Akishige vào đầu thế kỷ 20, ông đã sử dụng bút vẽ để ghi chép khoảnh khắc khi điện bắt đầu quy mô lớn vào cuộc sống hàng ngày của Đài Loan. Ngược lại, những cuộc triển lãm nghệ thuật đương đại của Đài Loan gần đây xoay quanh lý thuyết Thời kỳ Nhân loại (Anthropocene), hoặc những cuộc thi chụp ảnh, vẽ do các đơn vị năng lượng tái tạo tổ chức liên ngành, dường như vẫn có thể được đặt trên sợi dây kéo dài từ "Triển lãm Cột điện" của Ozawa Akishige năm 1932, trở thành cách cụ thể hóa khái niệm năng lượng.
Hàng trăm năm qua, những người sống trên đảo này cùng chung số phận, liên tục suy ngẫm cách hòa giải những xung đột giữa con người và tự nhiên, trong khi nghệ thuật là phương tiện tự phản tỉnh. Giống như các thành viên của Hội Đảo Đỏ mà Trần Trừng Ba Lan và những người khác đã tham gia thời kỳ Nhật trị, trong bản tuyên ngôn lập nên, họ đã tuyên bố tầm nhìn:
Phản ánh trung thành nhịp đập của thời đại,
Sống là nghệ thuật,
Chúng tôi hy vọng bắt đầu từ nghệ thuật, kết thúc bằng nghệ thuật, hóa dục hòn đảo này thành Đảo Đẹp.
Những người yêu thích nghệ thuật của chúng tôi, lòng hướng về quê hương Đài Loan,
Bất cứ lúc nào cũng siêng năng, không quên nghiên cứu, tiến bộ.
Trước đây Hội Đảo Đỏ được coi là bắt đầu của sự nảy mầm nghệ thuật Đài Loan. Còn bản tuyên ngôn này, có lẽ cũng có thể được hiểu là một lời tuyên bố của các nghệ sĩ trước cuộc sống hiện đại: nghệ thuật sẽ đóng vai trò tích cực trong xã hội, phản ánh trung thành nhịp đập của thời đại, và hóa dục hòn đảo này thành Đảo Đẹp.
Đọc thêm:
Tìm ra "sắc thái địa phương" riêng của Đài Loan: Từ Triển lãm Đài Loan Nhật trị đến Triển lãm Tỉnh Dân quốc, những họa sĩ khắc họa lịch sử Đài Loan
Bài viết này được sản xuất chung bởi Ban biên tập StoryStudio và Công ty Năng lượng Jera



