Kim Qua Thạch nằm gần cực bắc Đài Loan, chứa đựng nguồn tài nguyên kim loại và đồng quặng vô cùng phong phú. Sau gần một thế kỷ khai thác, nơi đây đã hình thành một thành phố khai khoáng với những nét đặc trưng độc đáo. Mặc dù ngành khai khoáng ở Kim Qua Thạch không còn thịnh vượng như xưa, nhưng vẫn để lại nhiều di sản văn hóa và cảnh quan địa lý quý báu. Những hầm mỏ từ nhỏ đến lớn, nếu cộng tổng chiều dài lại, vượt quá 600 kilomet, có thể quấn quanh toàn bộ Đài Loan một vòng - một con số đủ để gây kinh ngạc.

Đài Loan sở hữu các loại tài nguyên thiên nhiên phong phú, trong đó mỏ vàng nổi tiếng trên toàn thế giới. Từ thế kỷ 16, những người Tây Ban Nha và Hà Lan đã bắt đầu tìm kiếm ở miền bắc, nhưng cuối cùng không thành công. Cho đến năm 1889, khi Thống đốc đảo Đài Loan Lưu Minh Truyền xây dựng đường sắt, công nhân tình cờ phát hiện vàng cát ở sông Kê Long. Một số người tiếp tục đi ngược dòng sông và khám phá ra những mạch vàng tại Cửu Phần và Kim Qua Thạch. Tin tức này nhanh chóng lan rộng, lập tức thu hút hàng ngàn người tìm vàng và thợ mỏ ùa đến, tạo nên một làn sóng tìm kiếm tài nguyên khốc liệt ở miền bắc Đài Loan.

Vào giai đoạn đầu của thời kỳ cai trị Nhật, năm 1896, Tổng đốc Đài Loan công bố "Quy tắc Khai khoáng Đài Loan", quy định chỉ người Nhật mới được phép kinh doanh ngành khoáng sản. Sau đó, quyền khai thác mỏ ở Cửu Phần và Kim Qua Thạch được chia làm hai phần để dễ quản lý. Doanh nhân Nhật Bản Tanaka Chōhei dẫn đầu nhận lấy quyền khai thác Kim Qua Thạch, nhập khẩu thiết bị và nhân viên kỹ thuật từ Nhật Bản, tiến hành khai thác cả dưới trời và trong hầm mỏ (Hình 1). Anh ta cũng phát hiện ra quặng chứa đồng trong những mỏ này, do đó xây dựng một nhà máy luyện đồng ở Thủy Nam Lỗ, tạo thành một mô hình kinh doanh kết hợp giữa khai thác quặng và luyện kim loại.

Năm 1914, Thế chiến I nổ ra, nền kinh tế toàn cầu rơi vào khủng hoảng, ảnh hưởng đến hoạt động khai khoáng ở Kim Qua Thạch. Nhà máy luyện đồng bị buộc đóng cửa, và Tanaka Chōhei phải chuyển hướng, bán quặng sang Nhật Bản để duy trì hoạt động. Sau đó, quyền kinh doanh mỏ thay đổi chủ, dưới sự lãnh đạo của Ushimiya Shintarō, công việc khai thác dần dần được khôi phục. Đến năm 1931, Công ty Khoáng sản Nhật Bản mua được quyền khai thác mỏ. Để nâng cao hiệu suất khai thác kim và đồng quặng, họ sử dụng kỹ thuật khảo sát địa chất (Hình 2), dựa theo các thông tin bản đồ, tiến hành khai thác quy mô lớn những mỏ kim và đồng, thiết lập nhà máy chọn quặng để lọc quặng, phân loại thành cát tinh kim và các chất lắng đọng vàng bạc, rồi xuất khẩu từng đợt sang Nhật Bản để tinh chế. Khi hoạt động khai khoáng ở Kim Qua Thạch phát triển, sản lượng mỏ vàng đứng hàng đầu ở Nhật Bản và Đài Loan, đồng thời trở thành một địa điểm khai thác đồng quặng quan trọng. Năm 1941, Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, tình hình quốc tế thay đổi. Khi Quân đội Mỹ bắt đầu ném bom Đài Loan, tuyến vận chuyển biển ngoài khơi của Kim Qua Thạch bị tắc nghẽn năm 1944, buộc công việc khai thác phải tạm dừng.

Năm 1945, chiến tranh kết thúc, Cơ quan Quản lý Tỉnh trưởng Đài Loan tiếp quản khu vực Kim Qua Thạch. Năm sau, Ủy ban Tài nguyên của Viện Hành chính thành lập Cơ quan Chuẩn bị Khoáng Kim Đài Loan, tiếp quản quyền khai thác Kim Qua Thạch, nỗ lực khôi phục hoạt động khai thác quặng, liên tục mua sắm thiết bị luyện chảy các chất lắng đọng vàng bạc và bùn đồng lắng đọng, lên kế hoạch thực hiện luyện kim loại. Năm 1948, cơ quan chuẩn bị được tái tổ chức thành Cục Khoáng vụ Kim Đồng Đài Loan (viết tắt là Cục Khoáng vụ). Theo quy định, toàn bộ vàng tinh chế được giao cho Ngân hàng Đài Loan mua với giá niêm yết. Khi Chiến tranh Quốc cộng nổ ra, Đài Loan bị lạm phát nghiêm trọng, kết hợp với giới hạn về giá mua vàng được giao định, làm cho chi phí sản xuất vàng quá cao. Đến năm 1951, Cục Khoáng vụ đã rơi vào tình trạng chi vượt thu. Để duy trì hoạt động chung, họ quyết định khôi phục sản xuất quặng đồng, từ đó thiết lập mô hình kinh doanh "dùng đồng để nuôi vàng" ở Kim Qua Thạch. Theo thống kê, lúc đó có hơn 1.900 công nhân mỏ làm việc ở Kim Qua Thạch. Những văn phòng, phòng trích vàng, lò luyện, kho, nhà để xe, xưởng sửa chữa, phòng máy v.v. nằm rải rác khắp nơi. Các cáp treo liên tục vận chuyển quặng, trong khi nhân viên Cục Khoáng vụ và gia đình họ chiếm hơn nửa trong tổng dân số 11.000 người ở địa phương. Bên cạnh những căn nhà của công nhân và nhiều kí túc xá, còn có trường học, bệnh viện, rạp chiếu phim, bể bơi và các cửa hàng cung cấp để đáp ứng nhu cầu sinh sống của gia đình công nhân mỏ (Hình 3, Hình 4).

Năm 1955, khi sản lượng khai thác kim đồng ở Kim Qua Thạch ngày càng tăng, Bộ Kinh tế, nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài cũng như mở rộng quy mô kinh doanh, đã tái tổ chức Cục Khoáng vụ thành Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan (viết tắt là Công ty Tài Kim) (Hình 5). Theo điều lệ công ty, hoạt động kinh doanh bao gồm: khảo sát kim đồng quặng lưu hóa sắt, khai thác kim đồng quặng lưu hóa sắt và xử lý quặng, luyện chế vàng bạc đồng tinh khiết và các sản phẩm chế biến kim loại, cũng như sản xuất và bán các nguyên liệu, sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm bán thành phẩm và phụ phẩm liên quan đến các ngành khoáng sản kim loại khác (Hình 6). Các đơn vị trực thuộc công ty ban đầu gồm: phòng khảo sát, nhà máy khoáng, nhà máy chọn quặng, lò luyện, nhà máy bảo dưỡng, sau đó do nhu cầu mở rộng kinh doanh, công ty tăng thêm các đơn vị như Mỏ than Kim Qua Thạch, Mỏ than Tân Trúc (Hình 7).

Phân tích chức năng bên trong Công ty Tài Kim: Phòng khảo sát chịu trách nhiệm khảo sát địa chất, nghiên cứu mỏ quặng và địa chất. Để nâng cao hiệu suất khai thác, phòng này thường vẽ các bản đồ địa chất (Hình 8) và bản đồ địa hình làm tài liệu hỗ trợ, phân tích cấu trúc và môi trường địa chất của từng mỏ, tiến hành khoan điều tra địa chất trong lò, và liên tục mở rộng phạm vi khoan để tìm kiếm các mỏ mới. Nhà máy khoáng tập trung vào đo đạc và lập bản đồ trữ lượng và chất lượng khoáng sản, xây dựng kế hoạch khai thác và giám sát thực hiện, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị, cũng như giám sát an toàn và vệ sinh tại các khu vực làm việc (Hình 10). Nhà máy chọn quặng chịu trách nhiệm các công việc gồm: vận hành máy nghiền quặng và chọn quặng bằng chất lỏng nặng, cyanóa vàng và bạc, cũng như xay giã quặng và lọc nổi (Hình 11, Hình 12). Lò luyện chịu trách nhiệm kỹ thuật luyện kim loại, sản xuất các loại đồng thành phẩm, luyện chế các sản phẩm vàng bạc, sản xuất đồng lắng đọng, vận hành luyện đồng sơ bộ. Nhà máy bảo dưỡng chịu trách nhiệm lắp ráp, sửa chữa, kiểm tra và bảo trì các thiết bị máy móc, quản lý các hoạt động điện lực và viễn thông, cũng như xây dựng dân dụng và sửa chữa các văn phòng, nhà máy và các công trình khác. Tổ chức bên trong Công ty Tài Kim có sự phân công chuyên môn rõ ràng, mỗi bộ phận thực hiện trách nhiệm của mình, và tổng doanh thu kinh doanh liên tục lập kỷ lục mới.

Hình 8: Bản đồ địa chất Đài Loan năm 1974 (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 9: Khoan điều tra tại mặt đất (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 10: Sơ đồ bố trí nhà máy khoáng Kim Qua Thạch (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 11: Sơ đồ quy trình vận hành nhà máy chọn quặng (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 12: Toàn cảnh nhà máy chọn quặng (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Khai thác kim đồng quặng ở Kim Qua Thạch được chia thành hai loại hình tùy theo địa điểm làm việc: khai thác ngoài trời và trong lò. Loại ngoài trời dùng cho khai thác mỏ vàng, trước hết sử dụng máy khoan để khai, hoặc thông qua chất nổ để phá, sau đó dùng các thiết bị như cần cơ khí để đào quặng, cuối cùng dùng xe tải nặng vận chuyển. Loại trong lò phù hợp để khai thác kim đồng quặng, dựa theo độ cao của sườn núi, mỗi cách 120 hoặc 160 mét sẽ khai một hầm ngang hướng vào thân quặng để đi vào núi mỏ. Bên trong mỏ, các hầm trải chiều khắp mọi nơi, các hầm ngang liền kề ở tầng trên dưới cách nhau 40 mét theo phương thẳng đứng, xen kẽ nhau, tạo thành một mạng lưới phức tạp. Đối với vận chuyển quặng, phần ở độ cao 417 mét trở lên trước tiên được vận bằng xe đẩy đến ngoài lò (Hình 13), rồi được vận bằng cáp treo đến nhà máy chọn quặng (Hình 14); phần chưa đạt độ cao 417 mét được vận bằng giỏ hoặc xe đẩy đến ngoài lò, sau đó được vận bằng cáp vòng đến nhà máy chọn quặng (Hình 15) để xử lý quặng.

Hình 13: Vận chuyển quặng bằng xe đẩy trong lò (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 14: Vận chuyển quặng bằng cáp treo (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 15: Vận chuyển quặng bằng cáp vòng (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Sau khi chọn quặng, quặng được tinh chế thành cát tinh kim, tập trung cất giữ tại kho Thủy Nam Lỗ, rồi được xe khoáng tải (Hình 16), tiếp tục được vận chuyển bằng đường sắt Thủy Bát do Công ty Tài Kim vận hành, tức là tuyến Kim Qua Thạch, từ ga Thủy Nam Lỗ đi qua Tử Lão, Thâm Áo, Cơ Long Bát Đấu Tử, rồi đến kho Ba Thước để lưu trữ. Nếu muốn xuất khẩu ra nước ngoài, sẽ dùng tàu sà lan vận chuyển đến bến tàu bên kia bờ, sau đó chở lên tàu chở hàng. Phần nội địa sẽ được vận chuyển bằng xe tải đến ga Cơ Long, chở lên tàu hỏa rồi vận chuyển đến các tỉnh thành. Năm 1965, Cục Quản lý Đường sắt Đài Loan, nhờ sự thúc đẩy của Nhà máy Điện lực Đốt Thâm Áo, để thuận tiện vận chuyển than, xây dựng tuyến đường sắt từ Thâm Áo đến Thụy Phương Trấn, tức là tuyến Thâm Áo. Sau đó, Công ty Tài Kim sử dụng tuyến Kim Qua Thạch, tuyến Thâm Áo và mạng lưới đường sắt Đài Loan gặp nhau, thuận tiện cho xuất khẩu quặng cát, cũng như vận chuyển các thiết bị nhà máy mua từ các nơi, nhân viên công ty cũng thường xuyên đi lại bằng tàu hỏa (Hình 17).

Hình 16: Sơ đồ lắp ráp xe khoáng tải một tấn năm 1959 (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 17: Lịch trình tàu hỏa tuyến Kim Qua Thạch (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Vào thời kỳ hưng thịnh, Công ty Tài Kim có hơn 3.000 nhân viên, không chỉ giảm hoặc miễn phí vé tàu hỏa cho nhân viên và gia đình họ, mà còn vận hành Bệnh viện Kim Qua Thạch cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Hình 18), đặt các phòng khám chi nhánh tại Thủy Nam Lỗ và chi nhánh Hà Nội, cử các bác sĩ phẫu thuật, nhãn khoa, nha khoa, chỉnh hình, tim mạch đến thăm khám và phục vụ điều trị. Để cung cấp giải trí cho nhân viên và gia đình, Công ty Tài Kim thường xuyên chiếu phim tại Hội trường Trung Sơn, cũng như tổ chức các cuộc thi thể thao ngoài trời. Gia đình nhân viên được hưởng nhiều phúc lợi. Về phía giáo dục, Công ty Tài Kim không chỉ trợ cấp học phí cho con em nhân viên theo học Trường Tiểu học Qua Sơn, mà còn thành lập Trường Trung học Thời Mưa tại địa phương, giảm gánh nặng cho học sinh trung học phải học ở ngoài địa bàn. Nếu con em nhân viên đi học tại các trường khác ở Hà Nội hoặc nhận học bổng cấp ba, đại học, có thể đăng ký ký túc xá mà Chi nhánh Hà Nội cung cấp (Hình 19), vừa giảm nhẹ gánh nặng cho gia đình, vừa được chăm sóc từ những người chuyên trách gần đó.

Hình 18: Lịch trình khám ngoại trú Bệnh viện Kim Qua Thạch (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Hình 19: Đơn xin ở ký túc xá cho học sinh tại Chi nhánh Hà Nội (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Năm 1971, Công ty Tài Kim nhận thấy việc vận chuyển cát tinh kim sang Nhật Bản để tinh chế không phù hợp về hiệu quả kinh tế, nên cử đoàn khảo sát kỹ thuật luyện đồng ở nước ngoài, quyết định mua sắm thiết bị có khả năng sản xuất hàng năm 10.000 tấn đồng. Năm 1973, công ty hoàn thành xây dựng nhà máy luyện đồng Thủy Nam Lỗ, ngay sau đó đưa vào sản xuất. Trong giai đoạn này, công ty còn xây dựng nhà máy chế biến đồng (Hình 20), ngoài sản xuất tấm đồng, còn chế biến thành các loại nguyên liệu khác nhau, cung cấp cho các ngành công nghiệp điện tử, ô tô, bóng đèn, nút cài, ô, nhạc cụ, dụng cụ nhà bếp v.v. Năm 1975, công ty mở rộng bể điện phân, sản xuất đồng điện phân có lợi nhuận cao hơn. Cuối năm đó, Nhà máy Kim Nhôm Tuyến của Công ty Tài Kim hoàn thành, đây là nhận thức về sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp điện tử Đài Loan, nhu cầu về sợi vàng tăng lên, công ty nhập khẩu kỹ thuật nước ngoài đầu tư vào sản xuất sợi vàng, cũng nhập khẩu nguyên liệu nhôm silic, sản xuất dây dẫn nhôm, nâng cao toàn bộ giá trị gia tăng của sản phẩm.

Năm 1980, Công ty Tài Kim độc lập thiết lập Nhà máy Dây nhôm, hy vọng nâng cao chất lượng sản xuất dây nhôm. Cùng năm đó, công ty xây dựng Nhà máy Luyện đồng Lễ Nhạc (còn gọi là Nhà máy Luyện đồng Lý Lả) (Hình 21), đưa vào sản xuất đồng điện phân. Tuy nhiên, khi giá vàng và đồng trên thị trường quốc tế liên tục giảm, Công ty Tài Kim rơi vào tình trạng lỗ nặng, dẫn đến tình trạng vốn luôn gặp khó khăn về luân chuyển. Thêm vào đó, quá trình luyện đồng gây ô nhiễm, lâu dài làm hư hại sinh thái môi trường, trở thành tâm điểm chỉ trích. Năm 1987, Công ty Tài Kim, từng nổi tiếng với việc khai thác mỏ Kim Qua Thạch, luyện chế kim đồng quặng và chế biến các sản phẩm kim loại, đã chính thức ngừng hoạt động và bước vào lịch sử.

Hình 20: Nhà máy chế biến đồng (hiện nay là phòng thể dục trong nhà của Trường Trung học Thời Mưa) (Nguồn: Hứa Phong Nguyên)

Hình 21: Toàn cảnh Nhà máy Luyện đồng Lễ Nhạc (Nguồn: Công ty Cồ phần Kim loại Khoáng sản Đài Loan)

Mặc dù ngành khai thác kim đồng ở Kim Qua Thạch không còn huy hoangnh xưa, nơi đây vẫn lưu giữ sự hấp dẫn nhờ các di sản văn hóa khai khoáng phong phú và cảnh quan địa lý độc đáo, thu hút đông đảo du khách tham quan. Thậm chí nơi đây đã trở thành bối cảnh quay phim yêu thích của nhiều đoàn làm phim, khi muốn tái hiện cuộc sống của công nhân mỏ. Chẳng hạn, bộ phim "Thành phố buồn" (Hình 22) đã giành chiếc Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice (Italia), bộ phim "Đồi Im lặng" (Hình 23) đã đoạt giải phim chính kịch hay nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Kim Mã, bộ phim "Cha ơi", được bình chọn là phim hay nhất theo ý kiến khán giả tại Giải thưởng Điện ảnh Kim Mã, đều kết hợp yếu tố kiến trúc độc đáo và cảnh quan thành phố mỏ Kim Qua Thạch. Gần đây, Bảo tàng Vàng đã thành công trong việc xây dựng văn hóa mỏ Kim Qua Thạch, Công ty Điện lực Đài Loan đã thắp sáng di tích Mười ba tầng Thủy Nam Lỗ, Cục Quản lý Đường sắt Đài Loan đã khôi phục tuyến Thâm Áo, cùng với hoạt động xe đạp trên tuyến Thâm Áo, tất cả đều được dân chúng hưởng ứng rộng rãi, một lần nữa giúp Kim Qua Thạch lại trở thành tâm điểm chú ý của công chúng.

Mở rộng đọc thêm:

Những "họa sĩ công nhân mỏ" đuổi theo ánh sáng dưới lòng đất: Hồng Thụy Lâm và những chiến binh vô danh vĩ đại trong bức tranh của ông

Hình 22: Buổi họp báo của đoàn phim "Thành phố buồn" trở về nước vì giành chiếc Sư tử vàng Venice (Nguồn: Cục Thông tấn Hành chính Viện)

Hình 23: Ảnh lưu lại buổi triển lãm năm 1993 khi phim "Đồi Im lặng" được làm lại (Nguồn: Cục Thông tấn Hành chính Viện)

Công ty Tài Kim đã được sáp nhập vào Công ty Đường sắt Đài Loan năm 1991, hồ sơ công ty được chuyển giao thành hồ sơ quốc gia vào năm 2008. Cục Hồ sơ lưu giữ hồ sơ của Công ty Tài Kim, sau khi sắp xếp lại với tiêu đề "Hồ sơ Ngành công nghiệp Khai thác Kim Đồng Đài Loan", năm 2022 đã được vinh danh nhận Danh sách Ký ức Thế giới Quốc gia Đài Loan lần thứ ba do Cục Di sản Văn hóa của Bộ Văn hóa trao tặng. Các hồ sơ này rất quý giá và phong phú, có thể tìm kiếm và tra cứu thông qua trang web Thông tin Hồ sơ Quốc gia. Cục Hồ sơ cũng dựa trên bộ hồ sơ này, tại tầng 2 Phòng học chung của Bảo tàng Vàng Thành phố Tân Bắc đã tổ chức triển lãm nhỏ với tiêu đề "Những năm tháng Tài Kim: Hồ sơ Ngành công nghiệp Khai thác Kim Đồng Đài Loan", kính mời quý khách tham quan cùng tìm hiểu một thế kỷ của lịch sử lịch sự ở Kim Qua Thạch và những di sản văn hóa ngành công nghiệp khai thác kim đồng Đài Loan.

(Tác giả bài viết là Nhà nghiên cứu thuộc Nhóm Dịch vụ Ứng dụng của Cục Quản lý Hồ sơ, Ủy ban Phát triển Quốc gia Hứa Phong Nguyên)

Bài viết được phép tái bản bởi Cục Quản lý Hồ sơ, Ủy ban Phát triển Quốc gia, bản gốc được công bố trên Thông tin Lối sống Hồ sơ

Dựa theo Từ điển Tiếng Trung được biên soạn lại của Bộ Giáo dục: từ "khoáng" là một dạng chữ khác của "mỏ". Công ty Tài Kim sản xuất các mỏ vàng đồng đặc biệt, thường sử dụng chữ "khoáng". Bài viết này giữ nguyên các đặc điểm hoạt động của công ty, một số nội dung cũng sử dụng chữ "khoáng", đặc biệt ghi chú ở đây.