Tòa nhà Hoàng Đế Bảo Hùng Thịnh hiện nằm tại giao lộ đường Nhân Ái và đường Nam Kiến Quốc ở Đài Bắc, mảnh đất này từ thời Nhật Bản trước đây là tài sản của trụ sở Hội Phát Thanh Đài Loan, được Nhật Bản và Hội Phát Thanh Đài Loan cùng nhau dùng quỹ quốc phòng và nguồn tài chính khác để mua dần từ các chủ tư nhân trong giai đoạn 1940-1941. Tuy nhiên, sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, mảnh đất này bị Ủy ban Chấp hành Trung ương của Đảng Quốc Dân Đảng Trung Quốc - cụ thể là "Cơ quan Quản lý Công ty Phát Thanh Trung Ương" - tiếp quản. Tháng 12 năm 1946, Cơ quan Quản lý Công ty Phát Thanh Trung Ương được tái tổ chức thành "Công ty Cổ phần Phát Thanh Trung Quốc", đây chính là tiền thân của "Trung Quảng" - đài phát thanh mà nhiều người quen thuộc và một trong những nhà cung cấp dịch vụ phát thanh lớn nhất hiện nay ở Đài Loan.
Trong thời kỳ Đảng-Nhà nước, chức năng chính của phát thanh tất nhiên không phải để cung cấp giải trí. Đối với những người cầm quyền chuyên chế, các chương trình phát thanh được giao nhiệm vụ tuyên truyền chính sách, tâm chiến, và giáo dục. Về phía trong, phát thanh được coi là công cụ để cải tạo xã hội và kiểm soát tư tưởng, với những người lãnh đạo đơn phương lọc chọn thông tin và quan điểm được cho là nên truyền bá từ trên xuống. Về phía ngoài, phát thanh trở thành vũ khí sắc bén trong tâm chiến. "Nghĩa sĩ chống Cộng" chính là một trong những chủ đề nóng hổi trong các chương trình phát thanh thời đó.
Công cụ lãnh địa: Chiến tranh tâm lý qua những vở kịch phát thanh thẩm thấu vào tâm hồn
Đối với thế hệ trẻ Đài Loan ngày nay, những lời nói hoặc hành động "liếm Cộng" của các nhân vật chính trị hay công chúng có lẽ còn tạo cảm giác gần gũi hơn so với khái niệm "nghĩa sĩ chống Cộng". Nhưng trong bầu không khí thời đó, cuộc đối đầu Quốc-Cộng luôn hiện diện ở khắp nơi, và "nghĩa sĩ chống Cộng" chính là sản phẩm của những năm tháng ấy.
Nói về "nghĩa sĩ chống Cộng", chúng ta không thể không nhắc đến "11/11". Nhiều người biết rằng ngày 11/11 xuất phát từ "Ngày lẻ" trong trường học hoặc từ "Lễ hội mua sắm" được các công ty thương mại điện tử Trung Quốc phát minh, và cái tên sau này phổ biến hơn. Nhưng phần lớn người không biết rằng, trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc, ngày 11/11 còn có ý nghĩa và câu chuyện đặc biệt khác - đó là ngày 11 tháng 11 năm 1965, khi "nghĩa sĩ chống Cộng" Lý Hiển Bân được chào đón.
Sự đào ngũ của các phi công lao động hai bên eo biển là tin tức lớn lúc bấy giờ. Chiều hôm đó, đại úy phi công không quân Trung Quốc quê gốc tỉnh Sơn Đông Lý Hiển Bân, lái máy bay ném bom nhẹ loại Ilyushin 28 do Liên Xô sản xuất, từ sân bay Chài Kiều ở Hàng Châu bay vào sân bay không quân Đào Viên ở Đài Loan để "tìm tị nạn tự do". Một hành động chống Cộng có tính chất tuyên truyền chính trị cao độ như vậy, làm sao chính phủ có thể bỏ qua? Để chào đón nghĩa sĩ chống Cộng gia nhập hàng ngũ chống Cộng phục quốc, ngoài các nghi thức chào đón anh hùng, còn có phần thưởng bằng vàng hai nghìn lượng đủ làm người kinh ngạc. Chứ không cần nhắc đến các hoạt động thăm viếng,diễnthuyết và những điều tương tự, tất cả đều theo nguyên tắc tối đa hóa giá trị tuyên truyền của hành động này.
Phi công Lý Hiển Bân lái máy bay ném bom Ilyushin-28 khi đào ngũ. Trên máy bay lúc đó còn có hai phi công khác là Liêm Bảo Sinh và Lý Tài Vượng, cả hai đều bị Lý Hiển Bân cưỡng bức đưa vào Đài Loan.
Xem qua các hồ sơ báo chí từ thời đó, cảnh tượng hoành tráng lúc bấy giờ hiện hình trước mắt. Cơn sóng gây ra bởi Lý Hiển Bân thể hiện rõ ràng trên báo chí, và chiến lược tâm chiến của phát thanh cũng không vắng mặt.
Ngay hôm sau khi Lý Hiển Bân tới Đài Loan, anh ta lập tức lên sóng phát thanh tuyên truyền tới không quân Trung Quốc: "Các bạn tìm cơ hội, mau chóng bay sang đây!", "Đồng bào Tổ quốc đang chào đón các bạn!". Sau đó, trong nhiều ngày liên tiếp, không ngừng phát tín hiệu với khẩu hiệu "Chỉ có rời bỏ bóng tối để bước vào ánh sáng mới là con đường đúng đắn". Để ứng phó với việc ký kết Hiệp ước Phòng thủ Chung Mỹ-Trung vào năm 1954, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phải sử dụng tự do báo chí như một "cửa sổ trưng bày dân chủ" để tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ, nên sự đào ngũ bằng máy bay của các nghĩa sĩ chống Cộng trở thành tin vui phải thông báo cho thế giới tự do. Tháng 3 năm 1966, Lý Hiển Bân "tiết lộ tội ác của Cộng Sản" với phía Mỹ thông qua Trung Quảng để "toàn bộ phát thanh Mỹ nghe tường thuật từ nghĩa sĩ chống Cộng". Không chỉ vậy, Lữ đội Hiến Quang Nghệ Công của Tư lệnh Hiến Binh năm sau (1966) còn sản xuất vở nhạc kịch mang tên "Câu chuyện của Lý Hiển Bân" với Lý Hiển Bân là vai chính.
Mặc dù vì giới hạn tài liệu, hồ sơ về nội dung các chương trình phát thanh có âm thanh của Trung Quảng lúc đó không còn đầy đủ, nhưng chúng ta có thể từ nhiều bằng chứng suy đoán rằng vở "Câu chuyện của Lý Hiển Bân" đóng vai trò tuyên truyền quan trọng trong các chương trình Trung Quảng với tư cách là công cụ phát ngôn của chính phủ, đồng thời từ nội dung của nó cũng có thể phân tích mối liên hệ giữa chiến lược tâm chiến thông qua kịch phát thanh và phong trào văn nghệ mới của quân đội quốc gia - hiện nay ít được thấy.
"Phong trào văn nghệ mới của quân đội quốc gia" có nguồn gốc từ việc tự phê bình sau thất bại trong nội chiến Trung Quốc và khi chính phủ lâm thời sơ tán vào Đài Loan. Mọi người thống nhất cho rằng "sơ suất trong công tác tuyên truyền" là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới thất bại trong cuộc đối đầu Quốc-Cộng, vì thế chính phủ quốc dân khởi động "văn nghệ trong quân đội", thúc đẩy "văn nghệ chiến đấu", từ đó triển khai "phong trào văn nghệ mới của quân đội quốc gia", đưa văn nghệ vào quân đội, kết hợp "văn nghệ" với "võ nghệ", coi bút như súng, biến văn học thành phương tiện sẵn bị tư tưởng cho chiến tranh của quân đội, qua đó thực hiện cuộc đại nghiệp phản công phục quốc.
Sự đào ngũ của Lý Hiển Bân không chỉ mang lại cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc một liều kích thích với tư cách là một nghĩa sĩ chống Cộng, mà máy bay chiến đấu mà anh ta lái để tìm tị nạn còn là loại máy bay Ilyushin 28 do Liên Xô sản xuất nguyên bản đầu tiên mà thế giới tự do thu được, cho phép Mỹ có cơ hội tìm hiểu công nghệ chế tạo máy bay của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Trùng hợp thêm nữa là, năm Lý Hiển Bân tìm tị nạn tự do cũng chính là lúc phong trào văn nghệ mới của quân đội quốc gia bước vào cao trào. Từ ngày 8-9 tháng 4 năm 1965, "Đại hội Văn nghệ Quân đội" được tổ chức tại Phục Hưng Lâu ở Bắc Đầu, các nhà sáng tác văn nghệ quân đội tham dự chia làm các nhóm như "Lý thuyết văn nghệ", "Tiểu thuyết", "Văn xuôi", "Thơ ca", "Phim và kịch", "Âm nhạc", "Hội họa", "Phát thanh", "Nghệ thuật dân gian" để tiến hành hội thảo, tạo nên một sự kiện vô tiền khoáng hậu. Sau này, nhóm sản xuất vở "Câu chuyện của Lý Hiển Bân" đều có liên quan tới đại hội văn nghệ này.
Quân đội quốc gia thua cuộc sơ tán vào Đài Loan, đau đớn rút kinh nghiệm, bắt đầu thúc đẩy "văn nghệ trong quân đội" và "phong trào văn nghệ mới của quân đội quốc gia", kỳ vọng từ đó củng cố tư tưởng quân-dân.
Vở nhạc kịch "Câu chuyện của Lý Hiển Bân" được tuyên bố là "thực hành phong trào văn nghệ mới của quân đội quốc gia", là "hướng đi mới của sáng tác văn nghệ chiến đấu", gồm chín màn, bốn mươi hai cảnh. Nó tự hào rằng đã thoát khỏi bản chất giải trí thuần túy của điệu vũ nhạc kiểu quán đêm, khác với nhạc kịch cổ điển Châu Âu, thay vào đó thành lập một phong cách mới kết hợp hát, múa và kịch, trong đó chọn sử dụng phương pháp hiện thực, cố gắng giảm bớt trang trí bối cảnh, trang thiết bị, từ bỏ sự lãng phí của quần áo xa hoa, phù hợp với quân đội và môi trường thời đó. Nhóm sản xuất cho rằng: "Thông qua hình thức nhạc kịch, có thể đem những nền áp bức Cộng Sản ảm đạm, nặng nề, rối loạn phức tạp và lý thuyết cướp đảng ra để giới thiệu một cách sáng sủa, ngắn gọn, lựa chọn, giúp khán giả có thể hiểu rõ hơn, tạo được sự đối chiếu." Còn cách thể hiện vở kịch này, là để "tôn kính hiệu quả tâm chiến của các cơ quan không quân ta, và để tôn kính tất cả những nghĩa sĩ chống Cộng tìm tị nạn tự do cũng như những người chuẩn bị tìm tị nạn tự do." Tuy nhiên, lời ca trong vở nhạc kịch này hoàn toàn phản ánh cách thức chính phủ Trung Hoa Dân Quốc trong bối cảnh lịch sử thời đó, qua việc sắp xếp tình tiết cố gắng bôi nhọ Trung Cộng, và những từ ngữ đặc trưng mà khi đọc ngày nay gây cảm giác vô cùng lố lăng.
Câu chuyện bắt đầu từ quê nhà của Lý Hiển Bân là xã Quốc Dân Thái ở huyện Tín Dương, tỉnh Sơn Đông, nơi đó ban đầu là một ngôi làng yên tĩnh và vui vẻ, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tưởng, mọi người một lòng, tích tích tế dân, tràn đầy sinh lực. Tuy nhiên, Trung Quốc khắp nơi bị tàn phá dữ dội bởi pháo lửa sự cố Lỗ Câu dưới cuộc xâm lược của quân phiệt Nhật Bản, phải gánh chịu tám năm đau khổ, chiến tranh kết thúc rồi lại có quân Tám Lộ của Cộng Sản tấn công, làng quê tụt thành một màu đỏ máu. Sau khi Cộng Sản chiếm đoạt đất liền Trung Quốc, ngày đêm tiến hành đấu tranh và thanh trừng, Lý Hiển Bân không có đường sống, gia nhập không quân Cộng Sản, nhưng cha của anh ta đã gieo trong tâm hồn anh ta một hạt giống chống Cộng. Tiếp theo, vở kịch mô tả chi tiết cách Cộng Sản che dấu dưới biểu ngữ nhân dân, điên cuồng tìm kiếm địa vị, ô tô, biệt thự, sống đắm mê với bộ ba vợ, mặt khác lại thực hiện kế hoạch tiêu diệt dân số một tỷ người của Trung Quốc, thực sự là một thế giới bẩn thỉu.
Sau khi Lý Hiển Bân tốt nghiệp trường quân sự không quân Cộng Sản quay về quê nhà, chứng kiến đất đai nằm trong tro tàn, quê hương đổ nát, làm anh ta từ giấc mơ vô hình chiếc "thiên đường xã hội chủ nghĩa" rơi vào vực sâu tuyệt vọng. Vở kịch mô tả rằng lúc đó xã hội Trung Quốc bùng lên cuộc bão kháng cự chống Mao Trạch Đông, từ "Chuyện đêm sơn Yên", "Ký thảo ba làng", "Thượng thơ Hải Thụy", "Hải Thụy cách chức", nhằm vào Đảng Cộng sản gây ra hỗn loạn, làm sâu sắc thêm quyết tâm của Lý Hiển Bân tìm tị nạn tự do.
Kết thúc vở kịch là một đoạn "Cao trào cách mạng trên đất liền Trung Quốc đã tới", ghi chú rằng Lý Hiển Bân nổi dậy trở về giữa ngọn lửa rực rỡ của bức màn sắt, tư tưởng Mao Trạch Đông đã phá sản, Đảng Cộng sản là biểu tượng của thảm họa và cái chết, hơn nữa còn chứa hạt giống tự huỷ diệt, cuộc đại nghiệp phản công phục quốc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch chắc chắn sẽ thắng lợi thành công.
Tư lệnh không quân trao cấp bậc cho Lý Hiển Bân (trái) và Lý Tài Vượng (phải).
Đĩa hát này có một số đặc điểm. Trước hết, mặc dù đĩa hát tuyên bố là vở kịch biểu diễn trực tiếp trên sân khấu, cũng có động tác nhảy múa, nhưng các hồ sơ âm thanh hiện có cho thấy, nội dung của nó được viết với khái niệm phát thanh làm cốt lõi, chủ yếu là đối thoại và lời thoại, giữa các đoạn có âm nhạc để phân tách, mỗi đoạn khoảng ba đến bốn phút, dễ dàng phân đoạn phát sóng trong các chương trình phát thanh, phù hợp với định dạng kịch phát thanh liên tiếp.
Hơn nữa, lý do vì sao hồ sơ âm thanh này nghe bây giờ tạo cảm giác lạc lõng, ngoài vấn đề tư duy lạc hậu và từ ngữ cũ kỹ, còn do phong cách diễn xuất "có duyên" quá mức. Tuy nhiên, có một bộ phận ngữ điệu Bắc Kinh chuẩn, lúc bấy giờ lại là điều kiện cần thiết cho diễn viên/phát thanh viên! Chẳng hạn, tháng 4 năm 2005, Liên Chiến với tư cách chủ tịch Đảng Quốc Dân Đảng thực hiện chuyến "du lịch hoà bình" tám ngày để thăm Trung Quốc, ngoài gặp gỡ Tổng bí thư Cộng sản Hu Tân Đào và những người khác, còn ghé thăm quê hương sinh thành của mình là Tây An, điều ấn tượng nhất là trẻ em địa phương bất ngờ dùng giọng diễn kịch mà người Đài Loan ngày nay đã vô cùng lạ lẫm để liễm tụng "ông nội quay về rồi" và những từ tương tự, thông qua phát thanh truyền hình thời đó rồi trở thành chủ đề bị cười chê.
Có thể tưởng tượng, tất cả các vai trong hồ sơ âm thanh "Câu chuyện của Lý Hiển Bân" đều diễn xuất với nốt giọng và ngữ điệu như vậy, khiến người nghe bật cười. Xem xét nội dung đĩa hát, một mặt nhấn mạnh nền tảng phục hưng Đài Loan dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch thịnh vượng, hoà bình an lạc, là thiên đường mà nhân dân Trung Quốc hằng mong mỏi; mặt khác giới thiệu các tài liệu đọc được ưa chuộng lúc đó và các chủ đề thảo luận trong xã hội Trung Quốc, đồng thời đưa ra những nhân vật như Đặng Thác, Ngô Hàm, Liêu Mạc Sa - những tác phẩm của họ sau này bị Giang Thanh và những người khác phê phán, "Báo Nhân Dân Bắc Kinh" gọi tác phẩm của họ là "cỏ độc lớn chống Đảng chống xã hội chủ nghĩa", thêm nữa gọi cả ba người này là "những đại biểu cho đi theo con đường chủ nghĩa tư bản trong Đảng và ngoài Đảng", cho rằng họ giả mặt qua các bài viết học thuật và bài luận văn để chống Đảng chống xã hội chủ nghĩa, Đặng Thác, Ngô Hàm sau đó bị bức hại mà chết.
Vở "Hải Thụy cách chức" do Ngô Hàm sáng tác bị bản lũ tứ nhân phê phán, mở ra làn sóng Cách mạng Văn hóa.
Mặc dù các sắc lệnh quản lý sách báo về "bẫy Cộng, gần Cộng" lần đầu xuất hiện trong "Thủ tục quản lý ấn phẩm thời kỳ thiết quân luật khu vực Đài Loan" được sửa đổi năm 1970, nhưng trước đó, chính quyền lãnh đạo thực ra đã có các quy định liên quan, rõ ràng công tác cấm chỉ tác giả, tác phẩm hoặc bản dịch kiểu này đã có tiền lệ. Từ đó có thể suy ra rằng, trong thời đại hai bờ bị cô lập, nhiều tình tiết trong vở nhạc kịch này đối với nhân dân Đài Loan phải là nội dung lạ mà sẽ bị cấm, điều này cũng từ bên ngoài xác nhận rằng vở nhạc kịch này ở mức độ nhất định, chắc chắn chủ yếu dùng để phát thanh sang bờ đối diện, tiến hành tâm chiến và tuyên truyền mới là mục đích chính.
Hơn nữa, dù là để hướng tới công chúng xã hội rộng lớn hay tới các nhà trí thức bờ đối diện, "Câu chuyện của Lý Hiển Bân" thực ra chứa lượng thông tin khá lớn. Để đảm bảo hiệu quả tuyên truyền, vở kịch này sử dụng các kỹ thuật văn học cũng đã qua một quá trình thiết kế cẩn thận. Chẳng hạn, ở màn thứ tám của vở kịch, phần "hỏi" nội dung thực ra là một đoạn ca từ dài "Sáu mươi cái phải làm sao", được tạo thành từ những câu dài: "Môi trường địa phương rất không tốt, chủ nghĩa xã hội gặp khó khăn, hội họp tự phê bình phải tự phê bình, tương lai rốt cuộc phải làm sao?" Sau đó như "phân tử loại phải ngày càng nhiều", "chủ nghĩa tư bản đều muốn phục hồi", "luyện thép không thành công, công nghiệp thất bại", "công xã phá sản nhân dân kháng cự" và loạt các vấn đề khác, vì không biết cách xử lý nên ca từ liên tục hỏi "sáu mươi cái phải làm sao".
Cách viết này gợi liên tưởng tới bài thơ "Lệnh giới nghiêm buổi tối" của nhà thơ Pháp Paul Éluard, bài thơ chủ yếu bày tỏ cảm xúc của nhà thơ lúc Paris bị quân Đức chiếm đóng, dùng tám cái "phải làm sao" để hỏi, nhưng không nêu rõ người bị hỏi là ai. Những câu hỏi trong bài thơ xuất phát từ cơ thể bị giam cầm, nỗi đau thể xác và hành hạ cùng nỗi sợ hãi tinh thần, nhưng tình yêu hiển nhiên là tuyên bố vượt khỏi hoài nghi, mặc dù gắn với câu hỏi, nhưng lý đắc khí thế mà ném vấn đề ra ngoài, bề ngoài như đợi câu trả lời nhưng thực ra lòng đã sáng tỏ. Bài thơ của Éluard sử dụng câu lặp lại và câu song hành, tạo cho lối đọc thơ có nhịp điệu âm nhạc, đặc trưng này bị tác từ của "Câu chuyện của Lý Hiển Bân" vay mượn để sử dụng trong ca từ, lặp lại đặt ra những câu hỏi từng cái vấn đề không thể giải quyết, thể hiện tình cảnh Đảng Cộng sản loanh quanh lo âu.
Điều thú vị là, đĩa hát này lưu giữ dấu tích của "nghĩa sĩ chống Cộng", "tuyên thệ cuộc đại nghiệp phản công phục quốc" và các chính sách khác trong lịch sử Đài Loan, áo tả ghi chú "do công ty Thế Giới Âm Thanh phát hành, các cửa hàng đĩa hát lớn đều có bán". Công ty "Thế Giới Âm Thanh" được nói tới ở đây lại là công ty phát hành tác phẩm của nhiều ca sĩ dân ca nổi tiếng Đài Loan như Kỷ Sương Hà, Trương Thiện Mỹ, Vương Xiuôi và những người khác, những ca sĩ bản địa của công ty được độc giả yêu thích, tác phẩm bán chạy, đồng thời còn phát hành đĩa hát từ Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và những nước khác, thấy rằng đĩa hát này khi phát hành còn đặc biệt xem xét vấn đề kênh bán hàng, trong thời đại những năm 1950-1960 khi phát thanh là kênh thông tin quan trọng của nhân dân, sẵn sàng tiêu tốn nhân lực, tài chính như vậy. Rõ ràng đĩa hát mang tính chất mục đích chính trị cao như vậy, không phải hướng tới thị trường, vẫn có kỳ vọng và mục tiêu khi phát hành.
"Thám tử Đảng sản Du lịch đoàn"
Mua cuốn sách này
Đi trên đường phố Đài Bắc, như là trung tâm giao thông "Bắc Xe", từ thời Nhật Bản cho đến nay vốn là nơi tập trung các công ty thương mại, là trung tâm đô thị sôi động và đa dạng. Bên cạnh có tòa nhà kiến trúc Nhật Bản và vườn của Đền Tưởng Niệm Quốc Phụ, mang tới cho thành phố một sắc cổ điển và xanh lục. Đi xa hơn, đến con đường Trùng Khánh Nam ngập tràn hương sách thơm từ xưa, cùng "phố phim" nổi tiếng, được coi là đền thờ văn hóa phổ biến Đài Loan, phố Tây Môn Đình... Những điểm du lịch nổi tiếng này hay những địa hình văn hóa, đã là nơi quen thuộc với chúng ta hàng ngày.
Nhưng ít người biết rằng, những không gian, công trình hoặc đơn vị doanh nghiệp hiện có này, cũng như những căn thân tiền kiếp của chúng, thậm chí những ký ức bụi từng bị phá dỡ đã mai một, lại chứa đựng nhiều manh mối lịch sử "tài sản bất hợp pháp của Đảng" trong thời kỳ chuyên chế. Những di sản chuyên chế này, trong những chuyển biến sở hữu phức tạp và biến đổi thời không gian, dần dần mờ đi bộ mặt, và dưới hình thái có và không có, thẩm thấu vào mỗi góc của xã hội Đài Loan, cho đến nay vẫn tiếp tục chiếm giữ tài sản toàn dân, gây nên sự cạnh tranh chính đảng bất công bằng, tác động tới xã hội dân chủ và cuộc sống nhân dân.
Cuốn sách này được Ủy ban Xử lý Tài sản Bất hợp pháp của Đảng hoạch định, mời tập hợp các nhà nghiên cứu chuyên môn văn sử Đài Loan viết bài, thông qua những xác minh chi tiết và những câu chuyện sống động, giới thiệu những manh mối nguyên do và kết quả của tài sản bất hợp pháp của Đảng lớn, mở ra những bí mật lịch sử tài sản bất hợp pháp của Đảng và dấu tích mà có thể thấy ở khắp nơi hoặc đã mất đi trong cuộc sống, khôi phục lại sự thật bị che giấu biến đổi.
Hãy cầm lấy kính phóng đại tò mò, trở thành thám tử lịch sử, bước vào chuyến hành trình này khai quật tài sản bất hợp pháp của Đảng, trả lại tài sản cho nhân dân, và dọn sạch ký ức!
Bài viết này là tuyệt phẩm từ "Thám tử Đảng sản Du lịch đoàn" xuất bản bởi Tiền Vệ, hình ảnh được bộ biên tập StoryStudio bổ sung thêm, tiêu đề và đoạn văn đã được điều chỉnh.



