Nếu bạn thường xuyên theo dõi lịch sử hay tin tức đương đại của Đài Loan, chắc hẳn đã nhận thấy con người thường kết nối các thành phố với những gia tộc hoặc nhân vật cụ thể, giống như nhà Lâm Vũ Phong, nhà Cô Cảng Cô, nhà Nhan Keelung... Khi dạo quanh các con phố cũ khắp nơi, bạn cũng chắc chắn đã bước vào những ngôi biệt thự một thời lừng lẫy của các nhân vật nổi tiếng. Lịch sử gia tộc chính là lịch sử địa phương – khi nhìn lại quá trình phát triển của một địa phương, hoạt động của các gia tộc quyền thế chắc chắn là một trong những yếu tố then chốt không thể bỏ qua. Hiểu được lịch sử gia tộc chính là xóa bỏ lớp màn che của những nghiên cứu lịch sử địa phương. Từ thời kỳ công xã nông nghiệp dưới triều Thanh cho đến xã hội công thương hiện đại, từng gia tộc nắm từng bước phát triển, suy thoái giữa những biến cải chế độ và sự thay đổi ngành nghề. Hãy cùng tìm hiểu những gia tộc từng "thao túng gió và mây" ở Trúc Kiên và những câu chuyện về những "mái nhà lớn" của thành phố gió!

Vào giai đoạn đầu thời kỳ công xã Thanh, để ngăn chặn những vụ nổi dậy của dân lang thang, triều Thanh cấm xây dựng các thành phố bằng đá gạch ở Đài Loan, cho đến năm Đạo Quang thứ 9 (1829) mới hoàn thành "Bản đồ thành phố" của Tân Trúc phòng ở bản thảo "Tân Trúc phòng chí". Bản đồ này được lưu giữ trong "Tân Trúc phòng chí bản thảo".

Cưỡi ngựa họa địa, đào đắp thủy lợi, xây dựng đền đào tạo lập Trúc Kiên – Tìm hiểu lịch sử khai phá dân Hán ở Trúc Kiên từ gia tộc Vương

Những ai từng viếng thăm các ngôi đền quan trọng ở Tân Trúc có để ý đến "Vương Thế Kiệt thượng sanh cầu vị" được đặt bên cạnh đền thờ không? Vương Thế Kiệt là ai?

Vương Thế Kiệt (1661-1721) là một thương nhân dân Hán đã sang Đài Loan từ thời kỳ Minh Trịnh. Khi chính quyền Minh Trịnh phòng thủ chống lại cuộc tấn công của Thi Lang, ông đã được công nhận vì đã giám sát vận chuyển lương thực và được phép khai phá Trúc Kiên cảng. Theo truyền thuyết, vào thời ấy Vương Thế Kiệt cưỡi trên một con ngựa, từ Phượngđồi(nay là Phượng Cương ở Trúc Bắc) cưỡi ngựa suốt đến Lão Độ Kỳ (nay là Kỳ Đỉnh ở Miêu Lạp), và như vậy ông đã có quyền khai phá vùng đất đó. Tuy nhiên, do chiến loạn và chi phí khai phá khổng lồ, đến khoảng năm Khang Hy thứ 50 (1711), Vương Thế Kiệt mới dẫn những người lân cận từ Tuyền Châu, Phúc Kiến vượt biển sang. Họ bắt đầu khai phá từ Ẩn Phố Tử gần Đền Thành Hoàng (nay là Đông Tiền Phố 36 ngõ).

Vùng Trúc Kiên cũ đây là khu vực sinh sống của bộ tộc Tao Khách Trúc Kiên xã, cho đến khi Vương Thế Kiệt và những người thân của ông khai phá, bộ tộc Tao Khách mới dần dần di cư đến Cựu Xã, Tân Xã và những nơi khác. Cùng với sự phát triển của Trúc Kiên, gia tộc Vương cũng bước lên sân khấu của thời đại, trở thành gia tộc lớn nắm giữ những diện tích đất đai rộng lớn ở Trúc Kiên.

Từ Đền Thành Hoàng đi về phía Đông, theo hướng Chợ Cửa Đông, bạn sẽ phải đi qua Đông Tiền Phố. Nếu nhìn lên phía trên của ngõ 36, bạn có thể thấy một tấm bảng gỗ ghi "Tân Trúc Địa Nhất Phố", đánh dấu điểm khởi đầu của Vương Thế Kiệt khai phá Trúc Kiên.

Ở khu vực Tân Trúc, phần lớn đất đai được xây dựng đền đạo trong thời kỳ Càn Long đều do Vương Thế Kiệt đóng góp, vì vậy những ngôi đền này đều có bảng "Vương Thế Kiệt thượng sanh cầu vị", nhưng gần đây đã dần bị lãng quên hoặc được đặt ở những góc kém nổi bật. Hình ảnh là bảng "Vương Thế Kiệt thượng sanh cầu vị" tại chùa Trúc Liên.

Ngoài việc cưỡi ngựa họa địa để trở thành địa chủ lớn, Vương Thế Kiệt còn khai thác thủy lợi để tưới tiêu ruộng vườn, xây dựng các đền đạo để ổn định tâm lý con người, từ đó thiết lập nền tảng quan trọng cho sự khai phá Trúc Kiên của ông. Năm 1697, Ưu Vĩnh Hà trong "Ký Tưởng Bì Hải" đã mô tả Tân Trúc với cách diễn đạt "rừng rậm hoang vắng, không thấy một người", nhưng chưa đến 30 năm, từ khu vực phía nam sông Thụ Lâm Đầu mở rộng đến vùng gần Hương Sơn, hơn một ngàn mẫu đất đều được gia tộc Vương khai phá thành ruộng vườn.

Sau khi xây dựng thủy lợi, lượng đất có thể được tưới tiêu tăng lên gần một nửa. Vì vậy, Lông Ân Hùi lúc đầu được gọi là "Bốn Trăm Mẫu Hùi", ý nói rằng thủy lợi này có thể tưới tiêu bốn trăm mẫu đất. Bên cạnh đó, vì những người di cư từ phương xa sang Đài Loan vào thời kỳ sơ khai thường gửi gắm sự yên bình về thể xác và tinh thần vào tín ngưỡng và lễ tế thần linh, Vương Thế Kiệt đã đóng góp đất đai và tài chính để xây dựng các ngôi đền nổi tiếng ở Tân Trúc như Nhật Bản Thế Giới Cực Lạc, Đền Thành Hoàng Tân Trúc, chùa Trúc Liên. Trong quá trình khai phá, dù về mặt vật chất hay tinh thần, gia tộc Vương đều đã thiết lập nền tảng quan trọng với ảnh hưởng lâu dài.

Buôn bán, thi cử, tham gia công tác địa phương: Hai đại gia tộc công quán trong và ngoài

Giai cấp lãnh đạo xã hội trong xã hội thời kỳ công xã Thanh thường là những thương nhân địa phương có vốn kinh tế nhất định. Ngoài kinh doanh, họ còn tích lũy ảnh hưởng chính trị và xây dựng mạng lưới xã hội thông qua thi cử có công danh và tham gia công tác. Họ chuyển đổi vốn kinh tế thành vốn xã hội và chính trị, từ đó tôi luyện quyền định đoạt kinh tế địa phương. Điều này đặc biệt rõ ràng ở gia tộc Trịnh và gia tộc Lâm nổi lên vào giữa và cuối thời kỳ công xã Thanh ở Trúc Kiên.

Vào những năm đầu thời kỳ Càn Long, sau khi gia tộc Vương dần suy thoái do các tranh chấp pháp lý, gia tộc Trịnh và gia tộc Lâm cùng lập ở Trúc Kiên trở thành hai gia tộc sĩ tộc lớn vào giữa và cuối thời kỳ công xã Thanh, lần lượt được đại diện bởi Trịnh Dùng Thiếc (1788-1858) và Lâm Quan Sát Mai (1821-1868).

Trịnh Dùng Thiếc là "Khai Đài Tiến Sĩ" nổi tiếng, ông đã tỏa sáng gia tộc nhờ thành công trong kỳ thi. Khi những cuộc đối đầu vũ trang thường xuyên đe dọa an ninh của Trúc Kiên, ông liên kết với các sĩ tộc khác để trình đơn xin xây dựng thành phố Tân Trúc phòng – thành phố đầu tiên được xây dựng bằng gạch (ngày nay chỉ còn lại Cửa Đông), và đảm nhận chức vụ giám đốc xây dựng. Bên cạnh đó, Trịnh Dùng Thiếc cùng em trai họ Trịnh Dùng Phản Ánh lâu năm là hiệu trưởng Minh Chí Thư Viện. Cửa hàng "Trịnh Hằng Lợi" của anh trai Trịnh Dùng Trung là nền tảng vốn mạnh mẽ của gia tộc Trịnh.

Gia tộc Lâm Quan Sát Mai dựa vào "Hằng Tươi Tốt Hào" do ông nội Lâm Thiệu Nhân Đức sáng lập, sau đó đâu vào công vụ muối toàn Đài Loan và trở thành phú hộ Trúc Kiên. Mặc dù không có công danh từ kỳ thi, Lâm Quan Sát Mai vẫn sôi nổi quyên góp, tổ chức đoàn luyện, hỗ trợ dẹp bỏ cuộc nổi loạn Đào Triều Xuân, đồng thời gia tộc Lâm thường tại Ẩn Viên mời các chính khách và nhân sĩ tao nhã trò chuyện, từ đó thúc đẩy tâm lý văn hóa và giáo dục ở Tân Trúc, khiến Lâm Quan Sát Mai trở thành đại diện sĩ tộc quan trọng ở Trúc Kiên.

Qua tổng quan cuộc đời của Trịnh Dùng Thiếc và Lâm Quan Sát Mai, ta có thể thấy rõ rằng trong thời kỳ công xã Thanh, các gia tộc đã thông qua buôn bán, thi cử, quyên nạp công trạng quân sự, tham gia công tác địa phương và những cách thức khác để trở thành lãnh đạo địa phương. Bên cạnh đó, mặc dù có tin đồn rằng gia tộc Lâm và Trịnh thường bí mật cạnh tranh nhau bằng cách xây dựng Nội Công Quán Ẩn Viên và Ngoại Công Quán Bắc Quách Viên để so kè, nhưng gia tộc cũng có những lúc liên kết với nhau thông qua hôn nhân để tạo ra sự liên kết lợi ích. Chẳng hạn, con trai thứ hai của Trịnh Dùng Thiếc là Trịnh Như Lương đã kết hôn với em gái ruột của Lâm Quan Sát Mai, do đó Trịnh Dùng Thiếc trở thành bác của Lâm Quan Sát Mai về hôn nhân, và ngày xưa từng khuyến khích Lâm Quan Sát Mai khi ông gặp khó khăn.

Lâm Quan Sát Mai vừa là lãnh đạo xã hội có vị trí nổi bật, vừa là nhà thơ và họa sĩ tâm huyết, phần lớn các tác phẩm vẽ của ông đã mất tích, tác phẩm "Phú Quý Thần Tiên Đồ" được lưu giữ tại cơ quan chuẩn bị Bộ sưu tập di vật Đại học Quốc lập Thanh Hoa có thể là tác phẩm duy nhất còn sót lại của ông.

Ẩn Viên được ca tụng là một trong bốn danh viên, vị trí gốc nằm ở khu vực Chợ Tây Môn. Ẩn Viên khởi công xây dựng năm 1849, hoàn thành sau 15 năm. Sảnh Sương Ngâm ở trong Viên từng được Hoàng Tử Bắc Bạch Xuyên Cung năm 1895 đánh chiếm Đài Loan khi ghé thăm, nên trở thành địa điểm di tích, sau được dỡ bỏ năm 1919 và chuyển đến Thần Xã Tân Trúc, hình ảnh này là diện mạo của công trình được xây dựng lại tại thần xã. Sau Thế chiến II, nó lần lượt trở thành cơ quan quân sự và trung tâm xử lý dân cư Trung Quốc đại lục ở Tân Trúc, các sảnh đã bị hư hại. (Nguồn: Wikimedia)

Ngoài hai gia tộc Lâm và Trịnh, gia tộc Lý Tích Kim – người ban đầu làm công nhân cho gia tộc Trịnh, sau đó tự lập "Lâng Tươi Tốt Hào" và trở nên giàu có, cũng như gia tộc Ngô Vỗ Lợi kinh doanh giao dịch ngoại thương và khai hoang đất để canh tác, đều là những dòng họ có ảnh hưởng ở Trúc Kiên thời kỳ công xã Thanh. Lúc ấy, các gia tộc lớn phần nhiều cư ngụ trên đường Cửa Bắc, nơi các cửa hàng tập trung, có thể nói là khu vực sôi động và thịnh vượng nhất lúc đó.

Những quy tắc chơi chính trị thay đổi! Biến đổi gia tộc địa phương dưới chế độ thực dân

Đến thời kỳ quản lý Nhật Bản, các chế độ thi cử cũ dưới thể chế phong kiến không còn áp dụng được, cơ cấu quyền lực truyền thống và quy tắc chơi chính trị cũng thay đổi theo.

Dưới sự cai trị của chính quyền mới, các sĩ tộc mất đi quyền lực kinh tế ban đầu, họ chỉ mong muốn được bảo vệ gia phả và bảo vệ vị trí cũng như lợi ích đã có. Mặt khác, chính quyền thực dân Nhật Bản mới tới cũng cần dựa vào mạng lưới xã hội và ảnh hưởng của các sĩ tộc ở địa phương để hỗ trợ cai trị. Vì vậy, lúc ấy các tinh hoa xã hội và chính quyền thực dân Nhật Bản phát triển một hệ thống cộng sinh có lợi cho cả hai bên. Giới cầm quyền cấp cho các địa chủ những đặc quyền độc quyền kinh tế như muối, vé số, cũng trao cho họ các chức vụ công tầng nền như quận trưởng, bảo chính, cho phép các sĩ tộc địa phương hỗ trợ phát triển địa phương thông qua các chức vụ công tầng nền, phát huy ảnh hưởng để vận động tập hợp công trái, quyên góp, và dẫn đầu khuyến khích các chính sách công tác mới của giới cầm quyền. Có thể nói các sĩ tộc địa phương ở Trúc Kiên thời kỳ quản lý Nhật Bản "vừa chống đỡ quốc gia, vừa bị quốc gia kiểm soát".

Trịnh Uốn Cong Thần là con trai của Trịnh Công Gốc, thông qua công ty Kiên Ký Hưng Nghiệp mà ông thành lập, ông nắm vai trò "trọng lao dịch" (chức vụ quan trọng) ở các ngân hàng Miền Nam Trung Quốc, Đài Loan Thương Kỹ Năng Ngân Hàng, Tân Trúc Sự Đáng Tin Cậy Bộ, nên có ảnh hưởng ở nhiều công ty như Tân Trúc Đèn Điện Hội, Nhật Bản Thác Sinh Sản Công Ty, Miền Nam Trung Quốc Ngân Hàng, Tân Trúc Luyện Ngói Lợp Hội, May Mắn Nước Đức Buôn Bán Hội, Lý Kim Sáng Nhân Sâm Trang, Lớn Thành Đám Cháy Lớn Bảo Hiểm Hội, Đài Vịnh Cây Giấy Gạo Hội, Đài Vịnh Mễ Nhà Kho Sử Dụng Bán Bộ và hơn mười công ty khác, trở thành nhân vật quan trọng trong giới kinh doanh. (Nguồn: Lê Hứa Truyền đề nghị)

Các gia tộc có ảnh hưởng ở Tân Trúc thời kỳ quản lý Nhật Bản bao gồm gia tộc Trịnh Cửa Bắc kéo dài năng lực gia tộc từ thời kỳ công xã Thanh, ba anh em Lý Tuyết Củi, Lý Văn Củi, Lý Nhàn Nhã Củi từ gia tộc Lý Tích Kim cùng thế hệ con của họ, cũng như gia tộc Lâm Cao Bảo Vệ ở Cổ Nhân Tài Đức và gia tộc Tô Hợp ở Lô Trúc Nam Trang mới nổi. Lãnh đạo gia tộc Trịnh thời kỳ quản lý Nhật Bản là Trịnh Như Lan – cháu trai của Trịnh Dùng Thiếc, cùng hai con trai của Trịnh Như Lan là Trịnh Uốn Cong Thần và Trịnh Thần Bảo. Trong đó, Trịnh Uốn Cong Thần đặc biệt sôi nổi, ông không chỉ là người Hán sớm nhất đảm nhiệm chức vụ tham sự ở Tân Trúc, mà còn tổ chức sáng lập "Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Tân Trúc" – một trong những tổ chức nông nghiệp sớm nhất Đài Loan, cùng các sĩ tộc khác gây quỹ sắp xếp Chợ Cửa Đông. Ông cùng với Hoàng Nồi Ba, Trần Tín Phòng Học và những người khác đóng vai trò lõi tâm trong lĩnh vực chính trị và kinh tế thời ấy, tích cực tham gia đầu tư vào các công ty như Tân Trúc Kẹo Một Hội, Chế Não Một Hội, Công Ty Nhật Bản Thác Sinh Sản, có thể nói là tiên phong trong sự chuyển đổi tài sản mới nhất.

Mặc dù một số gia tộc có vốn và uy tín kém hơn các gia tộc lớn, nhưng họ cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển tài sản và lịch sử ở Tân Trúc thời kỳ quản lý Nhật Bản, thậm chí ảnh hưởng đến ngày nay. Chẳng hạn, gia tộc Quách ở Nam Quyền Lực là tiên phong của ngành bột gạo ở Tân Trúc, họ khởi xướng sản xuất bột gạo – điều được phát triển thành sản phẩm đặc trưng đại diện của Tân Trúc. Tô Lớn Nguyên – người lâu năm đảm nhiệm chức vụ bảo chính đầu tiên ở Tân Trúc, cũng như 24 con cháu là bác sĩ trong bốn đời của gia tộc bác sĩ ông, còn thể hiện bối cảnh thời kỳ chính sách thực dân Nhật Bản khi nhiều người Đài Loan chọn trở thành bác sĩ và giáo viên, khiến hai ngành nghề này trở thành từ đồng nghĩa với tinh hoa xã hội.

Giáo dục đại học thời kỳ quản lý Nhật Bản có các ngành học và chỗ học hạn chế, những người Đài Loan muốn tìm kiếm kiến thức nhiều hơn thường chọn sang Nhật Bản du học. Tờ rơi quảng cáo này là "Hội diễn thuyết đoàn du học sinh" tổ chức bởi chi nhánh Tân Trúc của Hiệp hội Văn Hóa Đài Loan năm 1927, với những du học sinh trẻ làm người nói, thể hiện khí thế trí thức mới, cũng là một phần để nâng cao văn hóa của người Đài Loan. (Nguồn: Bộ sưu tập của Bảo tàng Lịch sử Đài Loan Quốc gia)

Nói chung, bất kể dưới sự cai trị của chế độ nào, các gia tộc lớn đều có những điểm tương đồng và khác nhau:

Về mặt chính trị, trong thời kỳ công xã Thanh, chủ yếu có sự cai trị chung của các quan chức và tinh hoa địa phương, dựa vào vốn tài chính và uy tín của các sĩ tộc để giải quyết các vấn đề địa phương. Sau khi chính quyền thực dân Nhật Bản đến Đài Loan, họ dùng cảnh sát và hệ thống bảo giáp để tăng cường kiểm soát từ trên xuống, mặc dù vẫn trao cho các sĩ tộc truyền thống các chức vụ công tầng nền, nhưng tính chất xã hội địa phương đã giảm đi, và nó có xu hướng trở thành nhân viên cấp từ trên xuống.

Về mặt kinh tế, các gia tộc lớn thời kỳ công xã Thanh chủ yếu bắt đầu từ giao dịch thương mại và khai hoang đất, rồi trở thành sĩ tộc thông qua kỳ thi để bảo vệ tài sản gia tộc. Sang thời kỳ quản lý Nhật Bản, các lãnh đạo gia tộc trao đổi lợi ích chính trị để lấy tài nguyên kinh tế từ chính quyền; vốn đất đai truyền thống của các gia tộc cũng được chuyển đổi thành vốn lưu động "tín dụng" trong hệ thống ngân hàng hiện đại sau khi hoàn thành cuộc điều tra đất đai, trở thành vốn kinh doanh hiện đại để đầu tư vào các ngành công nghiệp mới dưới chính sách phát triển công nghiệp, tiến hành biến đổi gia tộc và tích lũy vốn hình thức mới.

Sau chiến tranh, dưới "chủ nghĩa haiphái" – cácpháiHứa Đông và Hứa Tây tương hỗ kiểm chế

Sau Thế Chiến II, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đến Đài Loan, thực hiện cải cách đất đai và bầu cử địa phương một cách dứt khoát. Hai chính sách lớn này thay đổi cơ cấu quyền lực truyền thống ở địa phương với các sĩ tộc và địa chủ làm chủ thể. Chính quyền tuyển dụng các tinh hoa Đài Loan và các lực lượng địa phương thông qua tự quản địa phương, bầu cử không chỉ là biểu tượng của chế độ dân chủ, mà còn để hấp thụ và huy động lực lượng bản địa, tôi luyện và duy trì tính hợp pháp của sự cai trị của chế độ Đảng Quốc Dân. Cácpháiđịa phương sâu thẳm ở mạng lưới chính trị Đài Loan địa phương ngày nay do đó dần hình thành.

Mặc dù hình thành cácpháikhông hoàn toàn kéo dài lực lượng các gia tộc lớn thời kỳ quản lý Nhật Bản, nhưng vẫn dựa vào mối quan hệ địa - huyết thống hoặc xã hội để liên kết, tạo ra mối quan hệ "ân huệ – bảo vệ" với chế độ Đảng Quốc Dân, lâu năm hưởng độc quyền quyền lực chính trị địa phương và lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, chế độ Đảng Quốc Dân thực tế có thái độ vừa hợp tác vừa phòng ngừa các lực lượng địa phương này – một mặt dựa vào họ phát huy sức mạnh động viên chính trị trong bầu cử, mặt khác lại e sợ họ phát triển quá lớn sẽ phản công. Sau đó chuyển sang thực hiện "chủ nghĩa haiphái", trong mỗi huyện thành phố hỗ trợ hai hay nhiềupháitương hỗ kiểm chế để đạt được hiệu quả "dùng Đài Loan để kiểm chế Đài Loan".

Ở Tân Trúc thành phố, haipháilớn này chính là Hứa Đôngpháivà Hứa Tâyphái, cả hai đều nắm giữ giấy phép vận hành tuyến xe buýt. Hứa Đôngpháidưới sự lãnh đạo của Hứa Vỗ Càn ở phía Đông cửa, sở hữu Công ty Xe Buýt Khách Tân Trúc, với các tuyến chạy ngang qua ba tỉnh Đào Trúc Mầm, sâu rễ vào từng góc tầng nền xã và có gần gũi tiếp xúc với dân chúng. Hứa Tâypháidưới sự lãnh đạo của Hứa Kim Nước Đức ở Tây Môn, dưới ngọn cờ của họ có Công ty Vận Chuyển Hàng Hóa Tân Trúc, Hợp Hội Tân Trúc, Lốp Xe Nam Cảng, Máy Móc Điện Sĩ Lâm và những doanh nghiệp khác, nhiều nhân sự, thế lực to lớn.

Mặc dù cácpháiở giai đoạn hình thành ban đầu có tính chất gia tộc rõ rệt, nhưng khi cácpháidần dần mở rộng ra ngoài dựa trên lợi ích và mạng lưới mối quan hệ giữa người với người, huyết thống không còn đóng vai trò yếu tố then chốt. Năm 1982, Tân Trúc huyện thành phố phân chia, ảnh hưởng của Hứa Đôngpháivà Hứa Tâypháidần lụi tàn, chuyển đổi thành lực lượng chia tách theo cộng đồng dân tộc làpháiMân Nam,pháiKhách Gia vàpháingoài tỉnh.

Tập đoàn Ngưỡng Nước Đức do Hứa Kim Nước Đức lập ra, dưới ngọn cờ có Công ty Vận Chuyển Tân Trúc quen thuộc với người Tân Trúc và Khách Sạn Quốc Tế Vương, còn cháu trai của Hứa Kim Nước Đức là Lý Xương Mưa, ngoài việc là thế hệ thứ ba của tập đoàn, còn cùng với chủ tịch hội đồng quản trị của Tín Nghĩa Nhà là Chu Đẹp Trai Cát thành lập Công ty Nước Đức Ánh Sáng Rực Rỡ, và năm 2017 đã nhận được quyền vận hành McDonald's Đài Loan.

Nhìn chung, sau chiến tranh, xã hội dần chuyển từ nền xã hội nông nghiệp dưới sự cai trị độc tài truyền thống sang nền xã hội công thương hiện đại dân chủ, mối quan hệ giữa gia tộc và phát triển địa phương không còn được liên kết bởi mạng lưới trao đổi lợi ích chính trị và kinh tế phức tạp. Bên cạnh đó, cùng với sự phổ cập của tài nguyên giáo dục và sự thay đổi cơ cấu gia đình và dân số, đào tạo nhân tài trở thành nhiệm vụ của quốc gia, thành tích cá nhân cũng không còn phụ thuộc sâu sắc vào vị thế xã hội kinh tế gia tộc.

Quay lại nhìn, quan sát trò chơi quyền lực giai cấp trên Đài Loan ngày nay, với đúng là nói ảnh hưởng gia tộc đã lụi tàn, không bằng nói các gia tộc lớn dưới sự thay đổi ngành công nghiệp đã thoát khỏi ràng buộc tính chất địa phương, dưới hình thức tập đoàn kinh doanh hấp thụ tài nguyên giao dịch ngân hàng thương mại của toàn Đài Loan thậm chí quốc tế, sáng lập hoàn toàn mối quan hệ hợp tác chính trị thương mại mới và quy tắc chơi kinh doanh mới, tiếp tục tiến hành trò chơi tích lũy vốn vô hạn trong xã hội hiện đại.

Nhìn tổng quát sự thay đổi xã hội của Tân Trúc từ thời kỳ công xã Thanh đến hiện đại, gia tộc luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nhân tài, phát triển kinh tế, chính trị địa phương. Lịch sử gia tộc cung cấp cho chúng ta góc nhìn vi mô, bắt đầu từ đơn vị hình thành xã hội cơ bản nhất, dùng "điểm" là nhiều nhân vật, "đường" là mối quan hệ giữa gia tộc, liên kết và miêu tả nên "mặt" là bối cảnh phát triển xã hội vĩ mô. Từ trao đổi lợi ích giữa gia tộc và chế độ cũng như xung đột tranh chấp, ta thấy rõ những hạn chế của gia tộc trong bối cảnh lịch sử cụ thể, cũng như tính chủ động của họ trong việc khai thác các điều kiện khác nhau, lên kế hoạch chiến lược và khởi xướng những điều riêng thuộc về thời đại của mình. Có thể nói, xây dựng lịch sử gia tộc địa phương chính bằng xây dựng một bức tranh lịch sử sinh hoạt hoàn chỉnh.

Đọc thêm:

[Thành Phố Gió Mưa] "Gió có thực sự lớn không?" "Vì sao bánh viên nổi tiếng?" – Về Thành Phố Gió, mười câu hỏi mà bạn muốn biết

"Bánh Viên Nước Dùng" kỳ thứ 26: "Các Mái Nhà Lớn Của Thành Phố Gió"

Mua cuốn sách này

Chủ đề của kỳ này là "Các Mái Nhà Lớn Của Thành Phố Gió", tập hợp nhiều khía cạnh ít được biết đến của những ngôi nhà lớn ở khu vực Tân Trúc, bao gồm việc tu sửa vẽ thần cửa của Đền Thờ Gia Tộc Trịnh ở nhà "Khai Đài Tiến Sĩ" Trịnh Dùng Thiếc, thẩm mỹ không gian của Nhà Rộng Lớn "Chu Ích Ký" trên phố Cửa Bắc, Trần Vào – họa sĩ Tân Trúc quan trọng trong danh sách "Ba Thiếu Niên Triển Đài Loan", cơ sở gia tộc của ông là "Tĩnh Sơn Cư", cũng như quần thể ngôi nhà cổ gia tộc Lâm Sáu Trường Ở Trúc Bắc. Thông qua phỏng vấn, chúng tôi rất may mắn có thể sâu sắc bước vào một vài ngôi nhà lớn thường xuyên có cửa đóng chặt, để chiêm ngưỡng những chi tiết sinh hoạt của các gia đình này. Việc lựa chọn vật liệu xây dựng tỉ mỉ, bố cục quy hoạch ấn tượng, tất cả đều là tài sản quý báu trong thành phố, những tòa nhà này không chỉ khắc ghi lịch sử huy hoanggia tộc mà còn là một bộ phận không thể thiếu trong bức tranh phát triển thành phố.

Ngoài tòa nhà, vấn đề "gia tộc" – lý do phát triển, lý do suy thoái, cách những nền tảng kinh tế hoặc văn hóa sâu sắc của gia tộc ảnh hưởng đến thế hệ sau – cũng là chủ đề mà chúng tôi quan tâm. Chúng tôi rất vui mừng trong kỳ này phỏng vấn Giáo Sư Trần Trăm Tuổi – người có nghiên cứu sâu sắc về lịch sử gia tộc Tân Trúc, thông qua việc lắp ghép những miếng ghép về lịch sử gia tộc quan trọng ở Tân Trúc, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về phát triển khu vực Trúc Kiên, những tấm lộc chính trị phức tạp, cũng như chúng tôi hy vọng những báo cáo dễ hiểu sẽ kích thích nhiều cuộc thảo luận và quan tâm hơn nữa từ quần chúng về câu hỏi "Tôi từ đâu mà đến?" và "Tôi sẽ đi về đâu?".

Tài liệu tham khảo

Trần Vận Đốc (1997): Quyển 7 <Chí Nhân Vật>. Từ Trương Vĩnh Đường biên soạn, "Tân Trúc Thành Chí", Cục Văn Hóa Thành Phố Tân Trúc, trang 198.

Tiết Kiến Vinh (2005), "Nghiên Cứu Vai Trò Sĩ Tộc Bản Địa Thời Đại Thanh Và Ý Thức Địa Phương – Lấy Nhà Văn Trúc Kiên Trịnh Dùng Thiếc Và Lâm Quan Sát Mai Làm Đối Tượng Khảo Sát". Luận Án Thạc Sĩ Chuyên Ngành Văn Học Đài Loan, Đại Học Quốc Gia Thành Công.

Trần Trăm Tuổi (2015): "Lịch Sử Gia Tộc Đằng Sau Bia Đá – Nghiên Cứu Gia Tộc Xã Hội Cận Đại Tân Trúc", Tân Trúc: Cục Văn Hóa Thành