Nội dung bài viết tham khảo: Lâm Ngọc Như, "Thương mại đa quốc gia và vai trò trung gian văn hóa: Sự xuất hiện của vương tộc giàu có hàng đầu Tài Nam Vương Tuyết Nông dưới hai chế độ chính trị", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Đài Loan, tập 27, số 4, trang 1-48.
Nhà phân tích và điều hành thị trường cá Thái Bình Dương phía đông cùng giảng viên dòng hải lưu - Vua biển Peter từng nói: "Chỉ cần bạn hiểu biển, biển sẽ giúp bạn". Đảo Đài Loan nằm giữa đại dương, luôn gắn bó mật thiết với biển cả. Nhưng làm thế nào để tương tác hiệu quả với biển là câu hỏi mà người Đài Loan phải đối mặt suốt nhiều thế kỷ. Là một hòn đảo nhỏ với tài nguyên hạn chế, Đài Loan phụ thuộc vào thương mại hàng hóa với các vùng đất liền khác. Lợi thế địa lý - nằm tại trung tâm giao thông Đông Á - đã giúp Đài Loan trở thành một trung tâm thương mại biển lớn.
Từ thời kỳ Thanh, Đài Loan và Trung Quốc đã duy trì thương mại ổn định. Từ những năm 1860 trở đi, sau các cuộc chiến tranh, bốn cảng chính - Keelung, Đạm Thủy, An Bình và Đánh Cổ - được buộc phải mở cửa, đánh dấu khởi đầu của một kỷ nguyên mới khi thương mại Đài Loan bước ra ngoài ranh giới, hướng tới thế giới quốc tế. Thương mại đối ngoại đã mang lại những ảnh hưởng sâu sắc. Thông tin từ bên ngoài, cùng với nhân lực và hàng hóa, có khả năng tạo ra những thay đổi mới mẻ cho địa phương.
Bên cạnh đó, thương mại cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển cuộc đời một cá nhân. Vương Tuyết Nông - một quan trọng sĩ tộc của Tài Nam sống qua hai thời kỳ Thanh và Nhật - chính là một ví dụ rõ ràng về sự thăng tiến nhờ thương mại.
Con đường lên ngôi của ông chủ giàu có Vương Tuyết Nông
Vương Tuyết Nông sinh năm 1870 trong một gia đình nông dân. Chỉ mới 13 tuổi, anh đã vào làm việc tại công ty Thuận Hòa ở Đánh Cổ. Lúc đó, Thuận Hòa được điều hành bởi Trần Trung Hòa từ gia tộc Trần ở Cao Hùng, với hoạt động chính là xuất khẩu đường sản xuất tại Đánh Cổ sang Nhật Bản. Ban đầu, Vương Tuyết Nông chỉ là một nhân viên thường của Thuận Hòa, nhưng chỉ trong vòng hai năm, anh đã được Trần Trung Hòa đánh giá cao và được thăng chức làm nhân viên kế toán tại chi nhánh Thuận Hòa ở Yokohama, quản lý sổ sách của chi nhánh. Đến năm 1890, anh được thăng lên chức Phó Tổng Giám Đốc, nhận được sự tin tưởng đầy đủ từ Trần Trung Hòa. Cho đến năm 1887 khi Trần Trung Hòa hợp tác với các thành viên gia đình Trần Phúc Khiêm thành lập công ty Hòa Hưng theo hình thức liên doanh, Vương Tuyết Nông vẫn tiếp tục làm việc bên cạnh anh.
Vào những năm 1890, công ty Hòa Hưng đã thay thế Thuận Hòa, trở thành công ty đường lớn nhất khu vực Đánh Cổ, với hoạt động chính là kinh doanh thương mại giữa Trung Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản. Năm 1895, khi chính quyền thay đổi, Trần Trung Hòa rời khỏi Đài Loan tới Hạ Môn, để lại cho Vương Tuyết Nông quản lý công ty Hòa Hưng. Tháng 1 năm 1896, Trần Trung Hòa quay lại Đánh Cổ. Để thưởng công cho Vương Tuyết Nông vì đã nắm vững tình hình trong thời kỳ khó khăn, Trần Trung Hòa quyết định cho anh độc lập kinh doanh, tới thành phố Tài Châu phát triển sự nghiệp mới và mở rộng ảnh hưởng của ppháiHòa Hưng.
Như vậy, tháng 12 năm 1896, Vương Tuyết Nông rời khỏi Đánh Cổ - nơi anh đã kinh doanh lâu năm - để tới thành phố Tài Châu lạ lẫm, khởi tạo sự nghiệp riêng của mình.
Để khởi tạo sự nghiệp mới, Vương Tuyết Nông mời gọi 15 cổ đông từ Đài Loan và các địa phương Trung Quốc, huy động vốn 30.000 đồng, thành lập công ty Đức Xương riêng của mình tại đường Hạ Nam ngoài cổng Đại Tây thành phố Tài Nam. Người sắp sửa bắt đầu nỗ lực kinh doanh ở Tài Nam lúc đó chắc chắn không hề nghĩ rằng, sau sáu, bảy năm, một người không có bất kỳ mối liên hệ địa phương nào ở vùng đất lạ lẫm này, sẽ có thể thay thế những thương nhân và gia tộc có ảnh hưởng lâu đời của Tài Nam, trở thành người giàu có hàng đầu và là đại biểu quan trọng của sĩ tộc địa phương.
Vậy thì, làm thế nào Vương Tuyết Nông nhanh chóng thăng tiến, trở thành một trong hai ông chủ giàu có thống trị miền Nam Đài Loan với danh xưng "Trần Trung Hòa ở Đánh Cổ, Vương Tuyết Nông ở Tài Nam"?
Nắm bắt thời cuộc khi chính quyền chuyển giao
Lý do đầu tiên: Thiên thời địa lợi.
Đường được sản xuất từ mía, tùy theo sự khác biệt về chất lượng đất của vùng sản xuất nguyên liệu, có thể chia thành đường Đánh Cổ và đường An Bình. Đường Đánh Cổ có độ kết tinh cao hơn, độ ngọt cũng lớn hơn, vô cùng được yêu thích bởi người Nhật, nên được xuất khẩu sang Nhật Bản với lượng lớn. Đặc điểm của đường An Bình là độ kết tinh thấp hơn, kết cấu tinh tế hơn, với khách hàng chính là các tỉnh ven biển Trung Quốc.
Năm 1895, Đế quốc Đại Thanh nhượng lại Đài Loan cho Nhật Bản. Mặc dù chính phủ Nhật Bản tổ chức lễ kỷ niệm thành công ở Đài Bắc, tượng trưng cho thời đại Nhật Bản ở Đài Loan chính thức bắt đầu, nhưng các lực lượng kháng Nhật vẫn hoạt động sôi nổi khắp nơi. Nhiều thương nhân ở thành phố Tài Châu, do lâu năm kinh doanh với Trung Quốc, thiếu kinh nghiệm tiếp xúc trực tiếp với Nhật Bản, nên nhận thức của họ về Nhật Bản vẫn mắc kẹt ở hình ảnh "cướp biển Nhật" trong quá khứ. Hơn nữa, nhiều doanh nhân vẫn có tài sản ở Phúc Kiến, nên khi nghe tin Đài Loan bị nhượng lại, họ liền rời đi trở về Trung Quốc hàng loạt.
Tháng 5 năm 1897, sau khi thời hạn lựa chọn quốc tịch hai năm của Phủ Tổng Đốc Nhật Bản kết thúc, toàn bộ Đài Loan có 6.456 người chọn nội du về Trung Quốc. Mặc dù chỉ chiếm 0,23% tổng dân số lúc đó, nhưng trên 70% số người, tức khoảng 4.500 người đến từ khu vực Tài Nam. Điều này cũng gây nên sự tan rã của nhóm thương nhân có ảnh hưởng nhất Tài Nam trước đây, tức những người được gọi là "ba Giao".
Trái lại, những thương nhân Đánh Cổ như Trần Trung Hòa và Vương Tuyết Nông, với kinh doanh chủ yếu là thương mại với Nhật Bản, vì có kinh nghiệm thương mại với Nhật Bản nên hiểu biết Nhật Bản nhiều hơn. Cộng với việc tận mắt chứng kiến những thành quả lấy lòng của Minh Trị Duy Tân, họ có thái độ thân thiện hơn với Nhật Bản, sẵn sàng hỗ trợ quân đội Nhật điều tra các lực lượng kháng Nhật ở Đài Loan. Công ty Hòa Hưng của Trần Trung Hòa thậm chí bị các lực lượng kháng Nhật vây đánh vì lý do này. Tuy nhiên, chính vì sự kết hợp tình cờ của các yếu tố thiên thời địa lợi này, Vương Tuyết Nông - người vừa thành lập công ty mới - mới có thể tận dụng khoảng trống, chiếm được lợi thế trong thành phố Tài Châu lạ lẫm và khai mở một mảnh trời riêng của mình.
Sự tiếp nối của mạng lưới thương mại ngày xưa
Lý do thứ hai: Mạng lưới thương mại được tích lũy trong thời gian dài.
Dựa vào kinh nghiệm làm việc lâu năm bên cạnh Trần Trung Hòa, ngay từ giai đoạn ban đầu khi độc lập kinh doanh, Vương Tuyết Nông đã nhân bản mô hình kinh doanh của Trần Trung Hòa, chọn kinh doanh công ty thương mại và vận tải hàng hải. Không chỉ mô hình kinh doanh quen thuộc mà còn có thể tận dụng mạng lưới thương mại mà Trần Trung Hòa đã xây dựng.
Ban đầu, công ty Đức Xương chủ yếu xuất khẩu đường, lúa gạo, muối, và nhập khẩu vải bông, hàng hóa đa dạng. Sau đó công ty còn bước vào sản xuất thuốc lá, kinh doanh nhãn nhân và tinh dầu ván cây. Trong những ngành này, kinh doanh đường và lúa gạo là quan trọng nhất. Lấy thành phố Tài Châu làm căn cứ kinh doanh, công ty Đức Xương vượt ra ngoài phạm vi hoạt động truyền thống của đường An Bình, xuất khẩu hàng hóa sang Yokohama, sau đó còn mở rộng tới Kobe và Nagasaki. Việc mua lúa đường trong nước cũng mở rộng do phạm vi kinh doanh vận tải biển, không chỉ là khu vực An Bình mà sau đó cả đường từ miền bắc cũng được tiêu thụ sang Nhật Bản thông qua công ty Đức Xương.
Hoạt động kinh doanh thứ hai lớn nhất của công ty Đức Xương là thương mại lúa gạo. Do khu vực Đài Bắc thiếu hụt lúa gạo, Vương Tuyết Nông đã vận chuyển lúa Tài Nam tới Đạm Thủy và Keelung bán. Khi lúa Tài Nam mất mùa, anh nhanh chóng quyết định nhập khẩu lúa từ An Nam, tiếp tục bán sang miền bắc. Nếu Nhật Bản thiếu lúa, Vương Tuyết Nông lại tận dụng mạng lưới sản xuất và tiêu thụ đường của công ty để vận chuyển lúa Tài Nam sang Yokohama, Kobe và các địa điểm khác để bán. Vương Tuyết Nông kinh doanh thương mại Đông Á, đi lại khắp các nơi, chú ý đến tình hình địa phương, nắm bắt được sự thay đổi của tình thế và nhu cầu thị trường, từ đó thu lợi nhuận.
Ngoài khả năng quan sát nhạy bén của riêng mình, Vương Tuyết Nông còn dựa vào mối quan hệ gần gũi với Trần Trung Hòa để thúc đẩy công ty Đức Xương nhanh chóng mở rộng kinh doanh. Sau đó, khi Vương Tuyết Nông đã ổn định tại Tài Nam, anh tiếp tục mở rộng hợp tác với các thương nhân nước ngoài, chẳng hạn như hợp tác với thương nhân Trung Quốc và Anh thực hiện các hoạt động thương mại, vận tải và các dự án khác. Ngoài ra, trong ngành công nghiệp sản muối cũng có thể thấy mối liên hệ gần gũi giữa chủ và nhân viên ngày xưa. Giai đoạn ban đầu thời Nhật, chính phủ đã từng dùng công vụ muối để dụ dỗ các sĩ tộc địa phương và củng cố chính quyền. Lúc đó, ở miền nam Đài Loan - từ Tài Nam, Phượng Sơn, Hằng Xuân cho tới Đài Đông - tất cả công việc muối đều do Trần Trung Hòa đảm nhận, còn Vương Tuyết Nông cũng có thể nhờ sự bảo trợ của Trần Trung Hòa mà chịu trách nhiệm công vụ muối khu vực Tài Nam. Anh lần nữa được hưởng lợi từ mạng lưới của Trần Trung Hòa, và thêm vào đó, thông qua công việc muối, anh tin chắc vị thế sĩ tộc địa phương của mình.
Tài năng kinh doanh của một ông chủ giàu có thế hệ
Lý do cuối cùng để Vương Tuyết Nông trở thành ông chủ giàu có: chính bản thân anh.
Năm 1898, báo Tiến Bộ Đài Loan Ngày Nay đã nhận xét như sau về Vương Tuyết Nông:
"Từ nhỏ đã du học Nhật Bản, cư trú hơn mười năm, thành thạo tiếng Nhật, giao dịch với các thương nhân Nhật không có gì khác biệt, mối quan hệ thân thiết hơn so với các thương nhân khác. Lại giỏi về kế toán, quản lý tài chính có phương pháp, khi tình thế kinh doanh thay đổi, như tay trong lòng, lại thường xuyên làm việc có căn cứ, ứng xử với mọi người hòa hãn, giao dịch công bằng, các thương nhân địa phương cũng sẵn sàng cùng anh tiến tới, với tài năng như vậy, không ngạc nhiên khi kinh doanh phát triển, có thể đảm nhận một phía."
Báo Tiến Bộ Đài Loan Ngày Nay (1898)
Báo chí đã giới thiệu ngắn gọn và đầy đủ kinh lịch cùng nhân cách của Vương Tuyết Nông, tôn vinh anh vì dám học ngoại ngữ, mối quan hệ rộng rãi, giỏi quản lý tài chính, trong kinh doanh đủ sức độc lập đảm nhận. Không chỉ vậy, anh còn vì kinh nghiệm sống cá nhân mà tin tưởng chính phủ Minh Trị khi chính quyền thay đổi, hỗ trợ quân đội Nhật đổ bộ. Đồng thời, lợi thế ngoại ngữ - thành thạo tiếng Nhật - đã giúp anh nhanh chóng thành lập vị thế là người phối hợp địa phương với chính phủ Nhật Bản, mối quan hệ tốt với chính quyền càng khiến anh được Phủ Tổng Đốc và chính quyền địa phương dựa vào lâu dài.
Vương Tuyết Nông - người lâu năm kinh doanh với Nhật Bản - đã tận dụng lợi thế am hiểu văn hóa và quy tắc Nhật Bản, khi nắm rõ luật pháp, thành lập ngân hàng Nông Thương Đài Loan - công ty hợp danh đầu tiên toàn Đài với vốn chính là của người Đài Loan. Anh cũng nhờ chính sách khuyến khích ngành đường của Phủ Tổng Đốc Đài Loan mà tham gia sản xuất đường hiện đại, thành lập công ty sản xuất đường Cảng Nước Mặn. Kiến thức học được từ thương mại quốc tế đã giúp hệ thống công ty Đức Xương hiện đại hóa hơn, không chỉ thoát khỏi tình trạng tập trung vốn gia đình đơn lẻ của công ty Hòa Hưng mà còn rõ ràng phân biệt giữa nhà đầu tư và nhà quản lý.
Anh còn huy động vốn quốc tế, thành lập công ty liên doanh đa quốc gia, kinh doanh bảo hiểm hàng hải, và thông qua huy động vốn và các dịch vụ đại lý bảo hiểm, làm cho sử dụng vốn linh hoạt và dồi dào hơn, có thể liên tục đầu tư vào các ngành công nghiệp mới, ví dụ như kinh doanh đường sắt nhẹ hoặc xin phép phát triển đất lấn biển thành ao nuôi cá, mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang nhiều hướng, từ đó khẳng định vị thế và bản lĩnh của một chủ sĩ tộc địa phương. Kiến thức nhận được từ thương mại quốc tế và trao đổi đã tạo nên sự khác biệt giữa Vương Tuyết Nông và các thương nhân truyền thống Đài Loan trước đây, anh có thể đóng vai trò trung gian văn hóa, hòa nhập được yếu tố Đài Loan, Nhật Bản và phương Tây.
Trở thành ông chủ giàu có sau đó
Thương mại biển đã giúp Vương Tuyết Nông lên chức từ con trai gia đình nông dân thành người giàu có hàng đầu Tài Nam. Tuy nhiên, anh cũng đã từng gặp phải thất bại trong kinh doanh. Trước Chiến tranh Nhật - Nga, giá đường liên tục tăng lên, cùng với những tin đồn liên quan tới chiến tranh bay tới bay lui, Vương Tuyết Nông dự đoán giá đường sẽ tiếp tục tăng, nên huy động vốn từ ngân hàng để mua đường lớn lao. Không ngờ dự đoán sai, giá đường sụt giảm mạnh, gây ảnh hưởng nặng nề tới sự nghiệp của anh, buộc anh phải sắp xếp lại sự nghiệp.
Tuy nhiên, điều này không làm giảm ảnh hưởng của Vương Tuyết Nông ở địa phương. Ngoài kinh doanh, anh còn có thành quả đáng kể trong vận động cộng đồng địa phương. Anh tích cực sử dụng hội thương mại để phục hưng Ba Giao, giúp Ba Giao trở thành nền tảng giao tiếp giữa chính phủ Nhật Bản và các sĩ tộc thương nhân địa phương Tài Nam. Anh liên hệ giữa các quan trọng Nhật Bản và các sĩ tộc thương nhân địa phương, cũng giúp các thương nhân địa phương hiểu luật pháp và chính sách Nhật Bản, bảo vệ lợi ích của các thương nhân địa phương, đòi lại những tài sản công của Ba Giao bị cơ quan địa phương chiếm dụng, cải thiện môi trường kinh doanh Tài Nam.
Thông qua tổ chức thương mại Ba Giao như vậy, Vương Tuyết Nông không chỉ mở rộng lãnh địa kinh doanh và mạng lưới nhân sự của mình mà còn xác lập vị thế là lãnh đạo sĩ tộc thương nhân địa phương. Ngoài ra, trong các công việc từ thiện, Vương Tuyết Nông cũng không bao giờ tiếc tay, không chỉ tham gia cứu trợ Quần Đảo mà còn donate tiền cho Trường Công Lập An Bình, tặng đất cho Trường Công Lập Linh Nhai, những hành động tốt lành này không chỉ giúp anh xây dựng hình ảnh công ích địa phương tốt đẹp mà còn thể hiện rõ khái niệm trách nhiệm xã hội như của các doanh nghiệp hiện đại. Năm 1915, anh được Phủ Tổng Đốc Đài Loan trao tặng bằng khen vì các công lao trong hỗ trợ giáo dục, phòng chống dịch bệnh, khai mở ruộng đất, phát triển ngành đường.
Vương Tuyết Nông mất năm 1915 do bệnh tật. Do những người kế tục không có khả năng tiếp tục, lãnh địa kinh doanh từng độc bá một phương cũng bị chôn vùi trong lịch sử. Tuy nhiên, Vương Tuyết Nông đã dùng biển, dùng thương mại để lật đổ số phận của mình. Câu chuyện truyền kỳ từ dân bình thành sĩ tộc giàu có này sẽ tiếp tục được lưu truyền theo sự phát triển của thương mại biển.
Bài viết được sự hỗ trợ và xét duyệt từ Tiến sĩ Lâm Ngọc Như, Viện Nghiên cứu Lịch sử Đài Loan, Viện Hàn Lâm Trung Ương. Bày tỏ lòng cảm ơn chân thành!
[1] Lý do Tài Nam có số người nội du lớn nhất lúc đó là do ba nguyên nhân: thứ nhất, lúc đó khu vực Tài Nam có dịch bệnh hạch lây lan, thứ hai, dân chúng địa phương có lo lắng về chính sách hạn chế thuốc phiện của Nhật Bản, thứ ba là tin tức bất lợi cho Phủ Tổng Đốc Đài Loan, ba lý do lớn này khiến dân số có khả năng di cư Tài Nam liên tiếp rời khỏi.
[2] Ba Giao ở thành phố Tài Châu là tổ chức thương nhân được tạo thành bởi các thương nhân kinh doanh xuất nhập khẩu ở thành phố Tài Châu, gồm có Bắc Giao Tô Vạn Lợi, Nam Giao Kim Vĩnh Thuận Huyện và Giao Đường Lý Đánh Bại Hưng.



