Bạn đã bao giờ nhìn thấy những bức ảnh rùa biển nuốt phải ống hút nhựa chưa? Những hình ảnh đáng thương khiến người xem không thể nhìn mà không xúc động. Chúng không chỉ là bằng chứng cho thấy rác thải nhựa gây hại cho rùa biển, mà còn thôi thúc công chúng nhận thức về vấn đề "rác thải đại dương" và từng bước kích thích phong trào "giảm nhựa" tự phát trong cộng đồng, khơi dậy một làn sóng bảo vệ môi trường mới.

Vấn đề rác thải ở đại dương ngày càng trở nên trầm trọng. Mặc dù những hình ảnh rùa biển nuốt phải rác thải nhựa đã gây ra sự nhiệt tình giảm nhựa, nhưng kiến thức của chúng ta về rùa biển và rác thải đại dương lại không tương xứng với cảm xúc ấy. Chẳng hạn, rùa biển đóng vai trò gì trong hệ sinh thái? Rác thải đại dương có ảnh hưởng như thế nào đến rùa biển và toàn bộ hệ sinh thái? Làm thế nào để cứu rỗi tình hình? Và làm cách nào để nhìn thấy khủng hoảng đại dương thông qua vấn đề bảo vệ rùa? Do vậy, tạp chí Pansci đã phỏng vấn Giáo sư Trình Nhất Tuấn, giữ chức Chủ nhiệm Phòng Thí nghiệm Sinh vật Biển tại Đại học Hàng hải Quốc lập Đài Loan, người được biết đến với danh xưng "Cha của rùa biển". Giáo sư chia sẻ kiến thức về rùa biển và hành trình gần 30 năm thúc đẩy bảo vệ rùa biển, cũng như vai trò của rùa biển là "loài sinh vật chỉ dẫn" trong các vấn đề sinh thái biển.

Điều gì đặc biệt về rùa biển?

Mặc dù thường được miêu tả dưới hình ảnh thân thiện và đáng yêu, Giáo sư Trình Nhất Tuấn cười nói rằng từ góc độ sinh học, rùa biển thực chất là những động vật bò sát lâu đời nhất ở đại dương, xuất hiện trên Trái Đất cách đây 300 triệu năm, đồng thời với khủng long! Là một kiệt xuất thành công trong quá trình tiến hóa, rùa biển có vô số câu chuyện đáng khám phá. Và điều quan trọng nhất là: "Muốn nhìn thấy khủng long ngày nay, chúng ta phải đến bảo tàng, nhưng rùa biển – loài bò sát biển cổ xưa đó – vẫn bơi lội quanh chúng ta!" Tuy nhiên, ngày nay việc gặp rùa biển cũng không còn dễ dàng như xưa.

Rùa biển đối mặt với những cuộc khủng hoảng sống còn nào?

Theo Giáo sư Trình Nhất Tuấn, rùa biển đang phải đối diện với nhiều khủng hoảng tồn tại, bao gồm: bị con người săn bắt để ăn thịt, mắc vào lưới đánh cá, nuốt phải các vật thải đại dương, hấp thụ kim loại nặng, và chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.

Regarding tác động của rác thải đại dương, Giáo sư giải thích rằng vì rùa biển có cơ chế ngăn chặn dòng chảy ngược tại cổ họng, nếu những gì nuốt vào không thể thông qua bình thường, chúng sẽ kẹt trong cơ thể gây tử vong. Ngoài ra, nếu rùa biển nuốt phải những cái móc cứng, chúng có thể kéo tổn thương ruột, gây ra "tắc ruột", tình trạng mà sau đó chỉ có cái chết chờ đợi chúng.

Tuy nhiên, Giáo sư cũng cho biết, mặc dù đến 80% rùa biển đã nuốt phải rác thải, nhưng khi giải phẫu những chú rùa đã chết, chỉ có tối đa 20% chất trong đường tiêu hóa là rác: "Rất khó để nói rác thải đại dương có ảnh hưởng trực tiếp đến tử vong của rùa, chúng ta chỉ có thể nói rằng việc nuốt rác khiến rùa không cảm thấy đói, từ đó chúng bỏ ăn những thức ăn bình thường, dẫn đến mất nước, tăng acid uric và làm thay đổi các chỉ số sinh hóa khác." Tuy vậy, ông cũng chỉ ra, mặc dù bác sĩ có thể dùng thuốc kích thích ruột để giúp rùa thải ra những vật nuốt nhầm, nhưng vì tốc độ co thắt của ruột rùa chậm, những kim loại nặng từ công nghiệp nặng và sản xuất năng lượng mặt trời vẫn sẽ bị hấp thụ vào cơ thể, khiến rùa bị bệnh.

Đại dương Đài Loan: không tệ, nhưng cũng không tốt lắm

Giáo sư Trình Nhất Tuấn cũng giải thích rằng bờ biển Đài Loan thực tế không bẩn như chúng ta tưởng tượng. So với toàn thế giới, tình hình của chúng ta chỉ "không quá tốt, cũng không quá tệ". Ông lấy ví dụ Rio de Janeiro ở Brazil, nơi các con sông chỉ toàn rác, không thể nhìn thấy nước, thậm chí xuất hiện "sỏi phân" – những chất thải nhân tạo dồi dào trong phân động vật. "Vấn đề rác thải ở Đài Loan đã bị phóng đại quá mức. Chúng tôi không phủ nhận rùa biển nuốt rác, cũng không phủ nhận rác là vấn đề, nhưng chúng ta lại phóng đại một con chuột thành một con hổ", Giáo sư Trình nói. Trợ lý của ông bổ sung thêm rằng Trung Quốc không có quy định xử lý nước thải, trực tiếp xả nước thải chứa niken ra đại dương. So sánh với điều đó, hàm lượng niken trong cơ thể rùa biển Đài Loan thực sự tương đối thấp hơn.

Bảo vệ sinh thái chán, dùng rùa để thu hút sự chú ý công chúng

Giáo sư cũng nói về tầm quan trọng của rùa biển đối với hệ sinh thái. Lấy rùa xanh biển ở Đài Loan làm ví dụ, chúng ăn chủ yếu là cỏ biển. Khi rùa thường xuyên cắn cỏ biển, những cây cỏ sẽ mọc lại tươi tắn, cung cấp thức ăn cho nhiều sinh vật khác, giữ toàn bộ hệ sinh thái hoạt động. Ngược lại, nếu rùa xanh biển biến mất, cỏ biển sẽ trở nên cứng và già cỏ, và khi không có sinh vật nào muốn ăn chúng, nhiều loài sẽ di cư, khiến hệ sinh thái mất ổn định.

Thú vị là, rùa biển còn đóng vai trò "loài sinh vật chỉ dẫn". "Loài sinh vật chỉ dẫn" là những loài mà người bảo vệ môi trường sử dụng để kích thích sự đồng cảm của công chúng, từ đó thúc đẩy công tác bảo vệ. Giáo sư Trình phát biểu đùa: "Rất ít người hiểu được hệ sinh thái phức tạp như vậy, nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý cần bảo vệ rùa biển, cá heo." Ông giải thích, rùa biển giống như cá heo được mọi người yêu thích, có thể tận dụng sự gắn kết cảm xúc của con người để thúc đẩy bảo vệ sinh thái biển, ban hành các đạo luật bảo vệ môi trường và hỗ trợ từ doanh nghiệp, từ đó thu hút các lực lượng xã hội vào lĩnh vực sinh thái.

Hành trình bảo vệ rùa biển bắt đầu từ một bài luận của học sinh

Về nguồn gốc của mối liên hệ giữa Giáo sư Trình Nhất Tuấn và rùa biển, phải kể từ việc ông hướng dẫn một bài luận của học sinh. Giáo sư Trình nhớ lại, năm 1992 (Dân quốc 81), Đài Loan vẫn còn chìm trong không khí phát triển là ưu tiên hàng đầu. Ngoài một số ít nhà khoa học thúc đẩy bảo vệ sinh thái, công chúng hầu như không có ý thức bảo vệ. Giết rùa, bán rùa, thậm chí dùng mai rùa làm đồ trang trí thủ công là những việc cực kỳ phổ biến. Lúc đó, Giáo sư Trình vừa trở về nước, có kế hoạch tiếp tục nghiên cứu sinh thái lý thuyết, nhưng không ngờ học sinh lại muốn nghiên cứu rùa biển. Để cứu vãn môi trường sống của rùa biển khỏi bị phá hủy bởi phát triển, ông bước vào con đường thực hành bảo vệ rùa biển trong 30 năm.

Đội ngũ do Giáo sư Trình lãnh đạo chủ yếu là các sinh viên. Vào những mùa hè, họ đi tới các địa điểm như Bảng An ở quận Bồ Hồ, Nhan Ngữ ở thành phố Đài Đông, và Tiểu Lưu Cầu ở thành phố Bình Đông. Họ làm việc từ 7 giờ tối đến 7 giờ sáng hôm sau, luôn theo dõi nhịp sống của rùa biển, quan sát và ghi lại tất cả hành động của chúng. Vào những ngày thường, sinh viên phải chăm sóc rùa biển bị bệnh, thả rùa về biển hoặc nhận lấy những xác rùa.

Ngoài những chia tay vĩnh viễn, điều khó khăn nhất là các trở ngại khi thúc đẩy bảo vệ. "Chúng tôi biết làm học thuật nhưng không biết xử lý con người", Giáo sư Trình nói một cách chán nản. Ví dụ như khi đề xuất thiết lập khu bảo tồn, điều quan trọng không phải chỉ là một sắc lệnh từ chính phủ, mà phải xử lý mối quan hệ giữa các bên: làm thế nào để điều hòa khi xảy ra xung đột lợi ích địa phương? Làm thế nào để bảo vệ và văn hóa có thể đối thoại khi có sự va chạm văn hóa của các cộng đồng?

Thêm vào đó, sự thiếu quan tâm của chính phủ đối với bảo vệ sinh thái cũng làm cho Giáo sư cảm thấy bất lực: "Những người làm công việc này vốn dĩ gặp nhiều khó khăn, nhưng các chính phủ nước ngoài sẵn sàng hỗ trợ những người làm công tác bảo vệ, trong khi Đài Loan lại không coi trọng lĩnh vực này lắm." May mắn thay, những thất bại không làm nản lòng Giáo sư và đội ngũ của ông. Giáo sư Trình chia sẻ rằng trong gần 30 năm qua, ông đã dùng thời gian để thay đổi nhận thức: "Khi bạn thuyết trình ngoài đường, có thể 1 trong 10 người sẵn sàng quay đầu lại nhìn, 1 trong 100 người sẵn sàng lắng nghe." Khi đối mặt với câu hỏi "làm bảo vệ có hữu ích không?", Giáo sư Trình và các học sinh tin vào sức mạnh của "nước chảy đá mòn". "Đó cũng là lý do tôi vẫn ở lại lĩnh vực giáo dục, hy vọng truyền tải kiến thức cho thế hệ tiếp theo. Chỉ như vậy, thế hệ tiếp theo mới sẽ tiếp tục thực hành với ý thức môi trường."