Các phương tiện truyền thông thường xuyên đưa tin "trường học vùng sâu vùng xa thiếu tài nguyên giáo dục" và kêu gọi "cần cấp thêm ngân sách hỗ trợ". Nhưng trên thực tế tại hiện trường giáo dục vùng sâu vùng xa, nhiều trường tiểu học nhỏ ở vùng này đã hoàn toàn cải tạo cơ sở vật chất, sử dụng những máy chiếu, máy tính, bảng trắng điện tử mới nhất; một số học sinh yếu thế có bữa ăn sáng và trưa được các nhân sĩ hoặc doanh nghiệp hỗ trợ thường xuyên; thậm chí tỷ lệ giáo viên-học sinh ở một số nơi còn cao hơn cả thành phố.

Về cơ bản, tài nguyên phần cứng cần thiết cho giảng dạy ở trường học đã khá đủ, cái thiếu hụt nghiêm trọng là phần mềm, đặc biệt là nguồn nhân lực. Mặc dù chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm ổn định đội ngũ giáo viên tại vùng sâu vùng xa, nhưng dường như vẫn chưa có thể giải quyết toàn diện vấn đề thiếu giáo viên ở vùng sâu vùng xa.

Trong nhiều năm qua, các tổ chức xã hội dân gian đã đẩy mạnh hoạt động, đưa sức sống và tài nguyên vào giáo dục vùng sâu vùng xa. Đối với những câu hỏi "Trẻ em ở vùng sâu vùng xa thực sự cần gì?", "Nếu có giáo viên lâu dài ở lại vùng sâu vùng xa, vấn đề có được giải quyết không?", họ đã thể hiện qua hành động những khách quan mới lạ khác hơn trước.

Dạy cho Đài Loan: Vùng sâu vùng xa cần nhiều hơn chỉ kỹ thuật giảng dạy!

Theo kết quả đánh giá giáo dục quốc tế PISA, ở Đài Loan khoảng cách trong thành tích học tập giữa trẻ em có điều kiện xã hội-kinh tế thuận lợi nhất và kém thuận lợi nhất lên tới 3 năm; bài kiểm tra TIMSS năm 2015 (Khảo sát xu hướng thành tích giáo dục Toán và Khoa học quốc tế) chỉ ra rằng ở Đài Loan tỷ lệ học sinh bị tụt hậu trong các khu vực nông thôn gấp 2 đến 3 lần so với thành phố, và một tỷ lệ cao trẻ em học yếu sinh sống ở những vùng sâu xa có nhu cầu học tập cao.

Tổ chức Dạy cho Đài Loan (Teach for Taiwan, viết tắt TFT) thành lập năm 2013, là tổ chức phi lợi nhuận hướng tới giải quyết "bất bình đẳng giáo dục". Trong suốt bảy năm qua, TFT đã đào tạo 200 nhân tài đa lĩnh vực, thông qua 500 giờ đào tạo, công tác toàn thời gian tại các khu vực có nhu cầu cao trong 2 năm, với dấu tích khắp các tỉnh Tài Nam, Bình Đông, Vân Lâm, Hoa Liên, Nam Đầu và các huyện khác, hỗ trợ hơn 5.000 học sinh. Trong những năm qua, TFT không chỉ cử giáo viên tới vùng sâu vùng xa, mà còn thông qua giáo dục sáng tạo, hỗ trợ nhiều trường học chuyển đổi, thậm chí tạo điều kiện để dân số bắt đầu chảy ngược, phá vỡ quan niệm "biên viễn bằng yếu thế".

Nói về ý tưởng cốt lõi của TFT, người sáng lập TFT Lưu An Thiêu nói: "Tạp chí The Economist vài năm trước đã dành bìa để nghiên cứu rất nhiều cách thức và chiến lược đầu tư giáo dục trên thế giới, tìm hiểu chiến lược đầu tư giáo dục nào mang lại hiệu quả cao nhất. 'Hiệu quả' này tất nhiên không phải nói về lợi nhuận tiền tệ, mà là về lợi nhuận trong 'học tập' của học sinh. Nghiên cứu cho thấy những chiến lược đầu tư giáo dục có tỷ lệ hoàn vốn cao nhất đều là những việc chỉ có 'giáo viên' mới có thể làm; nếu chỉ một chiều tăng cơ sở vật chất của trường học, sẽ không trực tiếp mang lại sự phát triển học tập của học sinh."

Quay lại vấn đề, để nâng cao động lực học tập của trẻ em, hoàn toàn không thể chỉ dựa vào "kỹ thuật giảng dạy" của giáo viên. Bởi vì những trẻ em ở vùng sâu vùng xa đối mặt với những yếu tố môi trường thường phức tạp hơn nhiều so với trẻ em ở thành phố, chỉ bằng cách tiếp cận có hệ thống mới có thể hiểu được trẻ em và đối phó một cách thích hợp.

Lưu An Thiêu lấy ví dụ, TFT từng có một giáo viên được phân công làm việc tại một trường tiểu học nhỏ ở Bình Đông, để gợi lên động lực học tiếng Anh của trẻ em, vị giáo viên này đã tự mình đến dạy lớp tiếng Anh cho người cao tuổi trong cộng đồng địa phương, dự định trước tiên hiểu rõ những khó khăn mà gia đình và cộng đồng của trẻ em đang đối mặt. Vị giáo viên này dần dần phát hiện ra rằng tiếng Anh mình dạy hoàn toàn không liên quan đến cuộc sống địa phương. Ngoài ra, người cao tuổi ở địa phương có tỷ lệ biết chữ không cao, không những khiến một số cháu vì thế coi thường ông bà, mà bố mẹ còn vắng mặt trong giao tiếp với giáo viên.

Sau khi hiểu rõ tình cảnh này, vị giáo viên bắt đầu điều chỉnh phương pháp dạy, sử dụng tính năng ghi âm của ứng dụng LINE để ghi sổ liên lạc, giúp những bố mẹ không biết chữ cũng có thể tham gia vào quá trình học tập của con em. Dần dần, ông bà và giáo viên có thể giao tiếp được; các cháu thấy ông bà học tiếng Anh một cách tâm huyết, cũng cảm thấy được động lực học tập. Thông qua sự kết nối giữa giáo viên và chiến lược chung của đội ngũ, nhóm học sinh này sau đó trở thành những trẻ em đầu tiên trong làng vượt qua bài kiểm tra tiếng Anh chứng chỉ.

"Chúng tôi không chỉ cử một con người tới vùng sâu vùng xa để đáp ứng 'thiếu giáo viên vùng sâu vùng xa', mà vùng sâu vùng xa còn cần những nhà lãnh đạo có khả năng tạo ra thay đổi." TFT một cách có hệ thống đã tạo động lực học tập của trẻ em thông qua sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, giáo viên ở vùng sâu vùng xa không chỉ có kỹ thuật giảng dạy, mà còn phải suy nghĩ làm cách nào mang theo chuyên môn giáo dục để tạo ra thay đổi, làm cách nào để đào tạo những nhà lãnh đạo thế hệ tiếp theo.

Trường tiểu học Nâng Dân ở Vân Lâm: Đảo ngược số phận bị thôi miên, đảm bảo tinh thần của giáo viên và ứng dụng giảng dạy có phân biệt

Khi thời đại ít con em đến, liệu trường học vùng sâu vùng xa cũng sẽ phải đối mặt với vận mệnh bị đóng cửa?

Trường tiểu học Nâng Dân ở Vân Lâm đã phá vỡ quan niệm này. Trong bối cảnh xu hướng giảm lớp đang ở mức cao, Nâng Dân lại có xu hướng ngược lại, tăng lớp theo từng năm, kết quả bài kiểm tra học kỳ toàn trường còn cao hơn mức trung bình toàn tỉnh. Trong những năm gần đây, học sinh chuyển trường kéo đến từng luồng, thậm chí các công ty xây dựng gần đó còn lấy trường làm "khu vực học tốt" để quảng cáo.

Trên thực tế, bốn năm trước, khi Nâng Dân vừa chuyển từ công lập sang trường tiểu học phi lợi nhuận được nhà nước quản lý, do làng quân nhân tàn lụi, dân cư di cư, số học sinh ngày càng giảm, tất cả giáo viên và hiệu phó ban đầu đều rời đi.

Điều gì đã khiến trường tiểu học Nâng Dân từng phải đối mặt với vận mệnh bị đóng cửa, nay trở nên sôi động sinh khí, ai cũng muốn tới?

Hiệu trưởng trường tiểu học Nâng Dân Lâm Úc Mộng nói: "Tôi không tin rằng trẻ em ở vùng sâu vùng xa có năng lực thấp hơn trẻ em ở thành phố, tất cả trẻ em đều có khả năng học tập. Nhưng tại sao lại có sự chênh lệch trong thành tích? Thường là vì trong quá trình đó, một số 'quả bóng' đã bị bỏ lỡ."

Trước khi đến trường tiểu học Nâng Dân, Lâm Úc Mộng từng là hiệu trưởng tại nhiều trường tiểu học nhỏ khác ở vùng sâu vùng xa, bà ấy hiểu sâu sắc rằng phần lớn bố mẹ ở vùng sâu vùng xa làm công việc lao động, vì thế ít có thời gian để kèm cặp con em, cộng với khu vực vùng sâu vùng xa nhận được ít kích thích văn hóa hơn, giáo viên phải cung cấp nhiều dưỡng chất hơn cho học sinh.

Thay đổi đội ngũ giáo viên là chìa khóa quan trọng để đảo ngược tình cảnh của Nâng Dân. Bốn năm trước, Nâng Dân được Quỹ Giáo dục Thành Chí tiếp quản quản lý, việc tuyển dụng giáo viên của Nâng Dân vẫn phải tuân theo quy định của Bộ Giáo dục, tuyển chọn công khai, nhưng trong hợp đồng hành chính giữa sở Giáo dục Vân Lâm và Quỹ Giáo dục Thành Chí, được phê chuẩn cho phép trường tự tuyển dụng giáo viên. Vị trí giáo viên còn trống của Nâng Dân phần lớn đã được TFT bổ sung, hiện nay, giáo viên của TFT chiếm khoảng sáu mươi phần trăm, những người còn lại là do trường tuyển dụng từ các tài năng ở khắp nơi.

Lâm Úc Mộng nói, theo quan sát của bà ấy nhiều năm, giáo viên dù có giảng dạy không rất sáng tạo, miễn là tâm huyết kèm cặp trẻ em, năng lực của trẻ em vẫn có thể được nâng cao. Nhưng dưới hệ thống tuyển sinh giáo viên hiện tại, chỉ cần thi đạt tiêu chuẩn thôi là có thể đảm nhiệm chức vụ giáo viên, lại thiếu cơ chế loại bỏ, vì thế ngay cả những giáo viên không có nhiệt tình vẫn có thể giữ chức tới khi nghỉ hưu. Với tư cách là người quản lý trường học, điều này thường khiến bà ấy cảm thấy bất lực.

Tới Nâng Dân, thái độ của Lâm Úc Mộng rất rõ ràng: muốn mỗi trẻ em, dù ở tay giáo viên nào, cũng được hưởng một phương thức giáo dục chất lượng cao. Vì vậy, khi Nâng Dân chuyển sang tuyển dụng công khai, bà ấy viết rõ ràng yêu cầu về giáo viên - chỉ những người có nhiệt tình giáo dục và khả năng giảng dạy liên quan mới được vào. Sau khi vượt qua bài thi giáo viên, trước tiên nhận được tư cách giáo viên thay thế được một năm một lần; sau khi bước vào trường, "dùng học tập để huấn luyện", mỗi ngày họp lại cùng nhau suy ngẫm lại bài giảng. Một, hai năm sau, những người đã được Nâng Dân huấn luyện cũng dễ dàng hơn khi tham gia tuyển chọn công khai.

"Chúng tôi kéo dài thời gian quan sát, như vậy có thể đảm bảo tuyển chọn được những giáo viên thực sự có nhiệt tình."

Đặc điểm nổi bật nhất của Nâng Dân là "giảng dạy có phân biệt". Trường sử dụng thành thạo các công cụ khoa học và công nghệ để hỗ trợ, trong cùng một tiết học, giao những nhiệm vụ khác nhau cho trẻ em. Những trẻ em có năng lực tụt hậu hơn thường được giáo viên dành nhiều thời gian nhất; những trẻ em có năng lực tốt hơn thì theo sự phân công của giáo viên, có thể tự học thông qua video hoặc ứng dụng, hoàn thành nhiệm vụ trong khoảng thời gian được định.

"Như vậy, không chỉ những trẻ em có năng lực tụt hậu có thể nhanh chóng bắt kịp, mà còn không có bất kỳ trẻ em nào bị bỏ lại lần nữa."

Sau những năm đó, nhiều trẻ em từng không được xem là có tiềm năng, không chỉ thành tích đạt được tiến bộ lớn, mà sau khi vào trường trung học ở thành phố, năng lực vẫn tiếp tục thể hiện xuất sắc, hoàn toàn phá vỡ mê tín "vùng xa xôi bằng tụt hậu".

Hiệp hội Giáo dục Sự nghiệp Trẻ em Nguyên Hương Ibu: Nhìn thấy nhu cầu của trẻ em, xây dựng liên kết giữa học tập và cuộc sống

Tốt nghiệp khoa Giáo dục Đặc biệt Trường Đại học Giáo dục Đài Bắc, Quách Khổng Ninh hiện là Bí thư Hiệp hội Giáo dục Sự nghiệp Trẻ em Nguyên Hương Ibu. Ở tuổi chưa tới hai mươi bốn, bà ấy đã tiếp tục vùng sâu vùng xa một cách sâu sắc, ngoài hệ thống giáo dục trong suốt năm năm. Vào mùa hè năm tốt nghiệp lớp ba phổ thông, bà ấy tới bộ lạc Vũ Lăng huyện Yên Bình tỉnh Đài Đông trao đổi lao động để có chỗ ở, và đã nói chuyện với một thầy giáo dạy thêm của hiệp hội cộng đồng địa phương về nghiên cứu và quan điểm giáo dục liên quan đến văn hóa dân tộc nguyên thủy của bà ấy. Thầy giáo địa phương khuyến khích bà ấy sau đó trực tiếp tới hỗ trợ giáo dục các trẻ em của bộ lạc. Từ năm đó tới nay khoảng sáu năm, Quách Khổng Ninh đã thành lập "Đội ngũ học tập chung bộ lạc Ibu" (tức tiền thân của hiệp hội), mỗi năm trong kỳ nghỉ hè và mùa đông, cùng các đối tác tới huyện Yên Bình, mang chuyên môn đã học vào hiện trường giáo dục của bộ lạc.

Quách Khổng Ninh từng trong cuộc khảo sát thực địa, đặt một câu hỏi với một vị hiệu phó tiểu học: "Trong bối cảnh văn hóa dân tộc nguyên thủy truyền thống dần dần lụi tàn, các trẻ em ở đây, có phải sẽ cảm thấy các giá trị văn hóa ngoại lai thịnh hành rất mới lạ, và không muốn quay lại học tập văn hóa truyền thống của chính mình không?" Vị hiệu phó kể lại với bà ấy, "Nếu thiết kế kế hoạch bài dạy tốt, ngược lại có thể khiến lẫn nhau thấy được sự độc đáo và sứ mệnh của chính mình."

Vì vậy, năm đầu tiên thành lập, đội ngũ học tập chung trong kế hoạch bài dạy "đốt lửa", theo cách trao đổi văn hóa, để cho trẻ em bộ lạc dạy cho họ những cách đốt lửa nướng thịt truyền thống, đội ngũ lại chia sẻ cho trẻ em bộ lạc những cách đốt lửa sử dụng pin. Theo hình thức trao đổi lẫn nhau, học tập lẫn nhau, đi vào nền tảng giảng dạy tiếp theo.

"Trẻ em có muốn học không, liên quan rất lớn đến việc vấn đề đó có liên quan đến cuộc sống của chúng không."

Những bài toán quen thuộc ở thành phố đối với trẻ em ở vùng sâu vùng xa thường có khoảng cách. Ví dụ, Quách Khổng Ninh từng hỏi một trẻ em: tại sao em không muốn viết bài tập toán? Trẻ em trả lời bà ấy, em không hiểu tại sao phải học toán. Xem kỹ đề bài: "Bố dẫn Tiểu Minh đi công viên vui chơi, một người bao nhiêu tiền? Hai người tổng cộng bao nhiêu tiền?" ... Trẻ em nói: "Em lại không thể đi công viên vui chơi, tại sao lại phải học?"

Quách Khổng Ninh biết, trẻ em rất thông minh, những gì không dùng được thì không muốn học. Vì vậy, các bà ấy thiết kế các khóa học "phản hồi văn hóa", hy vọng khiến kế hoạch bài dạy gắn liền với cuộc sống địa phương. Chẳng hạn như bài toán, các bà ấy trực tiếp dẫn trẻ em đi bộ trên cầu treo địa phương, từ đó luyện tập đo chiều dài, tính toán tốc độ; có trẻ em thường trốn học, nhưng bà ấy phát hiện trẻ em thường đi leo núi với ông nội, liền hỏi trẻ em có thể dẫn bà ấy đi đường mòn không, trong quá trình này bà ấy âm thầm đưa vào kiến thức toán học... Sau đó, trẻ em này không viết bất kỳ bài tập nào, chỉ viết bài tập toán.

Sau những năm đó, đối tượng giảng dạy của các bà ấy dần dần lan rộng từ tiểu học tới trung học cơ sở. Phần lớn là những thanh thiếu niên bị bộ lạc bỏ rơi, hút thuốc, uống rượu, không yêu thích học tập...

"Hãy tưởng tượng, tại sao nhiều trẻ em lại trưởng thành thành một người không có mục tiêu? Điều này là vì, khi toàn bộ bộ lạc hay xã hội, lúc trẻ em vừa bước vào trung học, đã dựa trên tiêu chuẩn liệu sau này trẻ em có thể kiếm sống được hay không để kỳ vọng và khuyến khích trẻ em sớm bước vào xã hội, hầu hết những lựa chọn tương lai là những công việc quân sự cảnh sát. Khi tự nhận thức của trẻ em còn chưa đủ, làm sao trẻ em có thể phân biệt được: 'mục tiêu tôi muốn' và 'kiếm sống' khác nhau như thế nào?"

Quách Khổng Ninh biết, muốn khiến trẻ em biết mình muốn cái gì, "thì không thể luôn cho, cuối cùng phải khiến chúng có thể phát triển sức mạnh của chính mình". Bà ấy dẫn thanh thiếu niên tự tổ chức hướng dẫn viếng thăm bộ lạc, lễ hội âm nhạc, đều là những hoạt động có thu phí công khai để mọi người tham gia. Từ việc làm việc trên máy tính, viết kế hoạch, quảng bá, vẽ tay linh vật, tới thiết kế sản phẩm, liên hệ với nhà máy, tạo ra sản phẩm hoàn thiện... tất cả đều do thanh thiếu niên tự điều hành. Hơn nữa, để nâng cao động lực của thanh niên, tất cả công việc đều có lương thưởng.

"Một khi những điều này có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ, năng lực học tập của họ rất mạnh."

Dần dần, trẻ em có tưởng tượng đa dạng hơn về những mục tiêu có thể thực hiện trong tương lai. Nhiều trẻ em bỏ học, dưới tay bà ấy lại có thể xử lý rất tốt các vấn đề khác nhau, và giàu sáng tạo. Quách Khổng Ninh biết, "điều quan trọng là liệu trẻ em có được thấy thực sự không. Chúng tôi thường biết rõ trẻ em hiện tại ở đâu hơn cả người địa phương, hoặc trở thành người đầu tiên tới hiện trường khi trẻ em gặp sự cố... tất cả đều là vì chúng tôi tâm huyết để hiểu hoàn cảnh của trẻ em, khiến trẻ em biết chúng tôi sẽ suy nghĩ từ vị trí của trẻ em."

"Trẻ em ở vùng sâu vùng xa không phải năng lực thấp kém, mà dễ dàng trong những khuôn khổ khác nhau, cho rằng 'học tập không phải con đường của tôi'. Điều chúng tôi đang làm là cố gắng xé bỏ những nhãn dán trên người trẻ em, trở thành người bạn đồng hành quan trọng của trẻ em, khiến quá trình học tập và cuộc sống của trẻ em liên kết lại, từ đó được công nhận bởi những người xung quanh." Dù giáo viên trong hay ngoài hệ thống, điều quan trọng nhất đều là "liệu có thực sự đứng từ vị trí của trẻ em, bước vào cuộc sống của trẻ em, để nhìn thấy những nhu cầu thực sự của trẻ em không?"

Sau khi các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc được đề ra, ba tổ chức nghiên cứu phát triển bền vững quốc tế lớn đã cùng công bố "Tầm nhìn thế giới năm 2050 (The World in 2050, TWI2050)", trong đó, mục tiêu thứ tư là "đảm bảo giáo dục có chất lượng, công bằng và toàn diện cho mọi người, và khuyến khích học tập suốt đời". "Giáo dục vùng sâu vùng xa" là vấn đề mà hiện nay phải đối mặt.

Đưa con người tới hiện trường giáo dục vùng sâu vùng xa là chưa đủ. Điều quan trọng là liệu có thể xây dựng liên kết giữa kiến thức và cuộc sống cho trẻ em, và trong quá trình học tập mà trẻ em "được thấy", gợi lên động lực học tập. Giống như những gì mà TFT, trường tiểu học Nâng Dân, và hiệp hội Ibu đang nỗ lực, khiến trẻ em vượt ra khỏi tư duy "lấy thành phố làm trung tâm", nhìn thấy văn hóa cuộc sống của chính mình, biết rằng bất kể trẻ em đến từ đâu, thuộc dân tộc nào, đều có quyền được thấy, có sức mạnh để tạo ra thế giới mà chính mình mong muốn.