Đài Loan ngày nay có thể gọi là một xã hội tiên tiến với y học phát triển và sức khỏe nhân dân vững chắc. Nhiều căn bệnh đáng sợ lâu nay như bệnh sởi, viêm não Nhật Bản, bệnh bại liệt, v.v. đã không còn lây lan. Những căn bệnh này từng tàn phá Đài Loan, gây đau khổ cho hàng vạn trẻ em và người lớn, cho đến khi các loại vắc-xin được phát triển và tiêm chủng rộng rãi cho trẻ sơ sinh và thơ ấu, mới từ từ trở thành lịch sử. Điều chúng ta đạt được hôm nay không phải là may mắn tình cờ, mà là kết quả của nỗ lực vất vả của nhiều người.

Đằng sau sự phát triển vắc-xin của Đài Loan, có một nhân vật không thể không biết - ông Lý Khánh Vân, được mệnh danh là "Cha đẻ vắc-xin Đài Loan". Ông không chỉ là người tiên phong trong nghiên cứu vắc-xin của Đài Loan, mà còn là nhân vật quan trọng trong công cuộc thúc đẩy tiêm chủng vắc-xin cho trẻ sơ sinh và thơ ấu.

Thằng bé Cao Hùng không yêu máy móc, lên Bắc để học y

Ngày 24 tháng 1 năm 1928 (Showa thứ 3), tiến sĩ Lý Khánh Vân được sinh ra tại Hồ Nội, quậncươngsơn, tiểu khu Ngoại Vàng, thành phố Cao Hùng. Ông là con trai đầu của gia đình Lý, còn có 8 người em. Cha của ông làm kế toán tại Tổ chức tín dụng Văn Tiền, hoàn cảnh gia đình khá bình thường. Mặc dù gánh nặng cuộc sống, các con em trong gia đình Lý vẫn nhận được giáo dục tốt.

Thời kỳ học tập của Lý Khánh Vân trùng với giai đoạn Đài Loan bao phủ bởi khói lửa chiến tranh. Lúc đó, khi theo học tại Trường Trung học Trường Vinh ở Đài Nam, xung quanh ông có nhiều bạn học bị chiến tranh gọi nhập ngũ, thậm chí lễ tốt nghiệp cũng bị hủy bỏ do Quân đội Đồng Minh ném bom dồn dập vào Đài Loan.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản vô điều kiện đầu hàng, chiến tranh kết thúc. Quyền lực ở Đài Loan thay đổi một lần nữa, bước vào thời kỳ bất ổn. Ngày 15 tháng 4 năm 1946, Lý Khánh Vân lên Trường Cao đẳng Công nghiệp Tài Nam tỉnh để học ngành Máy móc. Nhưng chỉ sau một học kỳ, ông nhận ra mình không có hứng thú, nên đã nói dối cha rằng mình muốn đi "thực tập", rồi lén mang theo một khoản tiền chạy lên Bắc để dự thi Lớp Tiền khóa Đại học Đài Loan, sau đó lọt vào Trường Đại học Y Đại Loan.

Không lâu sau khi vào học tại Trường Đại học Y Đài Loan, Lý Khánh Vân chứng kiến sự kiện 2.28 năm 1947, một cú sốc lớn đối với thanh niên đang học tập ở Bắc. Ông thấy trực tiếp sự hỗn loạn và sự biến mất của tiến sĩ Lâm Tư Tốt, giám đốc Lớp Tiền khóa. Lâm Tư Tốt là vị tiến sĩ du học Mỹ đầu tiên của Đài Loan, một học giả được tôn trọng. Ông đã tập hợp sinh viên Đại học Đài Loan, yêu cầu mọi người tránh ra ngoài vì tình hình lúc đó hỗn loạn, nhưng ngày hôm sau chính ông lại biến mất. Sự kiện này để lại bóng ma trong tâm lý Lý Khánh Vân và những người khác, sợ hãi đến mức ông chạy trốn về Cao Hùng suốt hơn một tháng trước khi quay trở lại Đại học Đài Loan.

Lúc đó, các giáo viên vừa có giáo sư người Nhật được giữ lại, vừa có giáo sư từ ngoài tỉnh, học sinh vừa có người địa phương như Lý Khánh Vân, vừa có học sinh từ ngoài tỉnh, nên ngôn ngữ sử dụng khá hỗn loạn. Học sinh không hiểu bài giảng của giáo sư là chuyện bình thường. Dù học tập trong hoàn cảnh hỗn loạn, Lý Khánh Vân vẫn thể hiện năng lực học tập xuất sắc, trở thành sinh viên tốt nghiệp đầu tiên của Trường Đại học Y Đài Loan sau khi được cơ cấu lại thành hệ 6 năm. Trong kỳ hè năm 4 và 5 của Trường Y, Lý Khánh Vân đã thực tập tại Bệnh viện Cao Hùng do tỉnh lập, tiếp xúc với nhiều bệnh nhân bệnh gan. Kinh nghiệm này sau này có lẽ cũng là động lực khuyến khích ông đi sâu vào nghiên cứu vắc-xin viêm gan B.

Mở đầu con đường nghiên cứu vắc-xin

Năm 1954, tiến sĩ Lý Khánh Vân hoàn thành thực tập và nhập ngũ. Ông được phó giáo sư Trần Mưa Dầm, người đang làm giám đốc Khoa Nhi tạm thời, lựa chọn để thăng chức và gia nhập đội ngũ Khoa Nhi Bệnh viện Đại học Đài Loan. Cùng lúc đó, Lý Khánh Vân cũng gặp gỡ vị vợ tương lai Trương Minh Trinh trong thời kỳ đào tạo bác sĩ nội trú, rồi thành gia.

Trong giai đoạn này, Mỹ thiết lập Viện Nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ thứ 2 tại Đài Loan (viết tắt NAMRU-2), đây là tổ chức nghiên cứu hợp tác y học đầu tiên giữa Đài Loan và Mỹ. NAMRU-2 chuyên nghiên cứu các bệnh nhiệt đới địa phương và vi rút lọc, mở rộng nghiên cứu các loại vắc-xin, phương pháp điều trị mới và y học dự phòng liên quan. Đây là đóng góp đáng kể cho công cuộc phòng chống dịch bệnh của Đài Loan về sau. Năm 1958, NAMRU-2 tuyển dụng một bác sĩ nhi khoa để hỗ trợ nghiên cứu dịch bệnh, cơ hội này rơi vào tay tiến sĩ Lý Khánh Vân, khiến ông thực hiện hai năm nghiên cứu tại NAMRU-2, tiếp xúc với kiến thức về bệnh tả, viêm não Nhật Bản, đau mắt hột, bệnh sởi Đức, v.v. Hai năm sau, Lý Khánh Vân rời khỏi NAMRU-2 và quay trở lại Khoa Nhi Đại học Đài Loan làm bác sĩ nội trú, bắt đầu phát triển vắc-xin bệnh sởi.

Lúc đó, bệnh sởi là bệnh dịch rất phổ biến ở Đài Loan, phổ biến đến mức các phụ huynh Đài Loan tin rằng "trẻ con phải mắc bệnh sởi mới lớn nên". Mặc dù phần lớn mọi người có thể vượt qua bệnh sởi, nhưng cũng có nhiều trẻ sơ sinh tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề. Lý Khánh Vân nhận thấy, để bảo vệ trẻ sơ sinh, chỉ có tiêm chủng vắc-xin là cách duy nhất, do đó ông bắt tay vào phát triển vắc-xin bệnh sởi.

Vắc-xin bệnh sởi do tiến sĩ Lý Khánh Vân phát triển được gọi là "Vắc-xin bệnh sởi kiểu Lý", có hiệu quả miễn dịch đạt 100%, tác dụng phụ tương đương với vắc-xin bệnh sởi của Mỹ nhưng hiệu quả hơn. Hai người đầu tiên tiêm Vắc-xin bệnh sởi kiểu Lý là con gái đầu và con gái thứ hai của Lý Khánh Vân. "Nếu chính mình làm vắc-xin mà không dám tiêm cho con mình, làm sao có thể thuyết phục người khác tiêm cho con họ?" Lý Khánh Vân nói như vậy. May mắn thay, kết quả thử nghiệm rất tốt, ông cung cấp vắc-xin cho một viện trẻ mồ côi do bạn học quản lý, tất cả các em bé ở viện năm đó đều không bị nhiễm bệnh sởi.

Mặc dù Vắc-xin bệnh sởi kiểu Lý rất hiệu quả, nhưng chính phủ Cộng hòa Trung Hoa không ngay lập tức thúc đẩy tiêm chủng, chỉ mở cửa cho tiêm tự trả phí năm 1968, cho đến 1978 mới quy định trẻ em 9 tháng tuổi và 15 tháng tuổi mỗi người tiêm một liều. Lúc này, tình hình bệnh sởi đã tàn phá Đài Loan suốt thời gian dài mới từ từ bị kiểm soát.

Bất kể thái độ của chính phủ và xã hội, Lý Khánh Vân vẫn tiếp tục tiến bộ trên con đường vắc-xin. Năm 1961, Lý Khánh Vân mang theo vợ và con gái thứ ba sang Đại học Washington để học tập nâng cao, tiếp xúc với nhiều kết quả nghiên cứu mới về vi rút viêm não Nhật Bản. Ba năm sau quay trở lại Đài Loan, Lý Khánh Vân đồng thời quay lại Đại học Đài Loan và NAMRU-2, tiếp tục nghiên cứu vắc-xin viêm não Nhật Bản. Năm 1968, vắc-xin viêm não Nhật Bản của Lý Khánh Vân vượt qua thử nghiệm lâm sàng. Giống như vắc-xin bệnh sởi, người đầu tiên tiêm cũng là con của chính ông. Sau khi xác nhận hiệu quả, ông mới cho các trẻ em khác tiêm chủng. Sau đó, Lý Khánh Vân vẫn tiếp tục nghiên cứu và phát triển các loại vắc-xin viêm não Nhật Bản mới. Cuối cùng, ông phát triển được Vắc-xin viêm não Nhật Bản giảm độc tính TWN-21 có hiệu quả rất tốt, vượt trội hơn so với vắc-xin chuột não được sử dụng trước đây, và ít tác dụng phụ hơn.

Vì thúc đẩy tiêm chủng vắc-xin, ông bị truyền thông mỉa mai là "sát thủ em bé"

Dù Lý Khánh Vân phát triển được những loại vắc-xin có hiệu quả xuất sắc, chính phủ lúc đó vẫn phản ứng lạnh nhạt, tiếp tục chú trọng vắc-xin chuột não. Lý Khánh Vân cũng không tìm được nguồn tài chính để sản xuất hàng loạt các loại vắc-xin mà ông phát triển. Thêm vào đó, năm 1979, Cộng hòa Trung Hoa và Mỹ đứt gân, NAMRU-2 rút khỏi Đài Loan, khiến Lý Khánh Vân mất đi môi trường nghiên cứu và hỗ trợ tài chính. Theo lời kể lại của Lý Khánh Vân, vào lúc đó ông như lâm vào thời kỳ ngủ đông trong nghiên cứu vắc-xin.

May mắn thay, thời kỳ ngủ đông này không kéo dài lâu.

Trong giai đoạn này, Lý Khánh Vân gặp Palmer Beasley (1936-2012), một nhà nghiên cứu từ Mỹ đến Đài Loan. Dưới sự thuyết phục của Lý Khánh Vân, Beasley chuyển từ nghiên cứu viêm phổi liên cầu khuẩn sang đi sâu vào việc điều trị bệnh viêm gan và ung thư gan phổ biến đặc biệt ở Đài Loan, dốc sức vào nghiên cứu vắc-xin viêm gan B. Năm 1981, Beasley công bố kết quả nghiên cứu về phòng ngừa truyền nhiễm dọc từ mẹ sang con viêm gan B ở trẻ sơ sinh. Cùng lúc đó, Lý Khánh Vân cũng gia nhập đội ngũ của ông để tiến hành nghiên cứu vắc-xin viêm gan B.

Lúc đó, đội ngũ nghiên cứu của Beasley đưa ra khuyến nghị rằng trẻ sơ sinh nên được tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng một tuần sau sinh, nhưng bị xã hội phản đối mạnh mẽ. Các phương tiện truyền thông và học giả chỉ trích rằng họ coi trẻ sơ sinh như chuột trắng thí nghiệm, gọi họ là "sát thủ em bé".

Tuy nhiên, khuyến nghị này cuối cùng vẫn nhận được sự ủng hộ của Viện Hành chính và Hội đồng Khoa học Quốc gia, tiếp tục thúc đẩy tiêm chủng và nghiên cứu vắc-xin viêm gan B ở Đài Loan. Từ năm 1984, Đài Loan bắt đầu tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh, hoàn thành tiêm chủng toàn diện năm 1986, khiến tỷ lệ mang virus viêm gan B giảm xuống dưới 1%, Đài Loan cuối cùng không còn là "hòn đảo viêm gan".

Cha đẻ vắc-xin Đài Loan, cũng là tiếng còi cảnh báo trước khi dịch bệnh đến

Lý Khánh Vân không chỉ hết sức phát triển vắc-xin, mà còn bỏ công sức rất lớn để thúc đẩy tiêm chủng vắc-xin. Ông hiểu rõ rằng dù phát triển được vắc-xin có hiệu quả thế nào, nếu không nhận được sự hỗ trợ quốc gia để tiến hành tiêm chủng toàn diện, vắc-xin cũng gần như vô dụng. Đại dịch bệnh bại liệt năm 1982 là một ví dụ điển hình về việc Lý Khánh Vân liên tục cảnh báo nhưng chính phủ không phản ứng kịp.

Chính phủ đã nhập khẩu vắc-xin Salk tiêm vào năm 1958 để phòng ngừa bệnh bại liệt, đến năm 1966 cũng nhập khẩu vắc-xin Sabin uống. Khi chính sách tiêm chủng vắc-xin được thực hiện, tỷ lệ bệnh bại liệt ở Đài Loan cũng từ từ giảm qua các năm. Đến năm 1981, số ca bệnh gần như bằng không. Nhưng chính vì cái "không" năm 1981 này đã khiến chính phủ chủ quan.

Tháng 6 năm 1982, Lý Khánh Vân để ý thấy trong một tuần có hai ca bệnh bại liệt. Ông không dám coi nhẹ hiện tượng này, ngay lập tức cảnh báo nhân viên Vụ Phòng chống dịch của Bộ Y tế chuẩn bị cho đại dịch bệnh bại liệt. Tuy nhiên, nhân viên chính phủ không kịp phản ứng, dựa vào báo cáo không ca bệnh năm trước, dẫn đến từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1982 bệnh bại liệt đại dịch ở toàn Đài Loan, phát hiện hàng ngàn ca bệnh, chính phủ lúc đó còn không đủ vắc-xin để cấp phát, tình hình hoảng loạn. Sau đại dịch năm 1982, chính phủ cuối cùng đã rút kinh nghiệm, thực hiện tiêm chủng toàn diện cho học sinh dưới trung học, vậy mới khiến bệnh bại liệt biến mất sau năm 1984.

Từ năm 1984 trở đi, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta nghe nói đến bệnh sởi, viêm não Nhật Bản, bệnh bại liệt v.v. ngày càng ít. Nhưng nhìn lại quá khứ, Đài Loan đã trải qua một thời kỳ khó khăn, khi đó cứ năm, sáu người thì có một người mắc viêm gan B. Theo thống kê năm 2009, số dân Đài Loan mang kháng thể viêm gan B dương tính là 2.420.497 người, tỷ lệ mang virus đã giảm xuống còn 1/10. Thành tựu ngày hôm nay không phải là tất yếu, mà là kết quả tích lũy từng chút một, nỗ lực lâu dài trong hoàn cảnh khó khăn của một nhóm những người tài giỏi. Tiến sĩ Lý Khánh Vân chính là một trong những nhân vật đáng kể giúp Đài Loan thoát khỏi các bệnh tật chiếm mạng. Nếu không có ông phát triển vắc-xin và thúc đẩy tiêm chủng, ngày hôm nay chúng ta có thể vẫn còn phải chịu khổ do bệnh tật, vì vậy ông được gọi là "Cha đẻ vắc-xin Đài Loan".

Tháng 6 năm 2021, tiến sĩ Lý Khánh Vân qua đời ở tuổi 94. Suốt đời ông không chỉ phát triển nhiều loại vắc-xin cho Đài Loan và thế giới, mà còn đào tạo nhiều thế hệ sau, xây dựng nền tảng vững chắc hơn cho sự phát triển kỹ thuật y tế của Đài Loan. Đài Loan cũng trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới tiêm chủng toàn diện vắc-xin viêm gan B. Hiện nay, chúng ta đang chống chọi với đại dịch COVID-19 gây khó khăn cho toàn cầu, lúc này chính là thích hợp để biểu dương lòng kính trọng đối với những đóng góp của tiến sĩ Lý Khánh Vân. Tin tưởng rằng với sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau của toàn dân, chúng ta chắc chắn sẽ vượt qua khó khăn lần này.