PGS.TS. Trần Thúy Liên, Khoa Lịch sử, Đại học Quốc gia Đài Loan

Những năm 1920, Đài Loan chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các làn sóng tư tưởng thế giới, các phong trào xã hội phát triển rầm rộ. Trong số đó, "giải phóng phụ nữ" được coi là một mục tiêu có tầm quan trọng ngang bằng với "giải phóng dân tộc" và "giải phóng giai cấp". Tuy nhiên, những phong trào giải phóng phụ nữ thời kỳ đó có nguồn gốc, hoạt động và thành quả ra sao? Bài viết này xin mời PGS.TS. Trần Thúy Liên, Khoa Lịch sử Đại học Quốc gia Đài Loan, chia sẻ về những phong trào giải phóng phụ nữ thời bấy giờ.

Những năm 1920: Khởi đầu của phong trào phụ nữ

Đối với Đài Loan hiện đại, sự phát triển quan trọng nhất của những năm 1920 chính là kết nối với các làn sóng tư tưởng hiện đại. Người Đài Loan mở rộng tầm nhìn, chiêm ngưỡng một thế giới tiến bộ và văn minh, không chỉ nhận thức được các vấn đề chính trị, văn hóa mà còn ý thức rõ nét về các vấn đề giới tính.

Phong trào phụ nữ phương Tây bắt đầu phát triển từ nửa sau thế kỷ thứ 18. Trong tác phẩm "Giấc mơ tự trị: Phong trào dân chủ Đài Loan từ thời Nhật trị đến sự kiện 28 tháng 2", PGS.TS. Trần Thúy Liên đã nhấn mạnh rằng sự tiếp xúc của châu Á với các tư tưởng phương Tây liên quan mật thiết đến sự mở rộng của đế quốc Nhật Bản. Từ thế kỷ 19 trở đi, Nhật Bản không chỉ tiếp thu các chế độ chính trị từ phương Tây mà còn các tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các phong trào giải phóng phụ nữ. Đó là một thời đại phát triển đa chiều. Phong trào phụ nữ Nhật Bản khởi động ở TTokyo, sau đó được truyền lại Đài Loan thông qua những sinh viên du học; ngoài ra, các thành phố quốc tế như Thượng Hải cũng có phong trào phụ nữ sôi động.

Tác phẩm "Nằm mơ cả thế kỷ: Câu chuyện về phong trào dân chủ Đài Loan" - tập một (sau này được in lại dưới tên "Giấc mơ tự trị") của PGS.TS. Trần Thúy Liên kể về hành trình của người Đài Loan từ năm 1920-1947, quãng thời gian hơn hai mươi năm, từ sự giác ngộ về trí thức đến việc theo đuổi tự do, dân chủ, nhân quyền và tự trị.

Trong bối cảnh này, ở Đài Loan cũng bắt đầu xuất hiện các sáng kiến về phong trào phụ nữ. Sự phát triển này giống như một vòng tròn lan truyền từ tâm điểm là Tây Ban Nha, với Đài Loan nằm ở vị trí ngoài cùng của quá trình này. Các phong trào xã hội của Đài Loan thời bấy giờ sử dụng tiến trình văn minh của các quốc gia khác trên thế giới làm tham chiếu, từ đó phản tư bản thân còn thiếu gì, cần học hỏi những gì, và tìm kiếm vị trí của mình trong khung cơ cấu thế giới. Các nhà trí thức mang những tư tưởng mới nhanh chóng nhận thức được khoảng cách giữa xã hội Đài Loan và nền văn minh hiện đại, và điều rõ ràng nhất chính là các hình thái gia đình chủ yếu do nam giới thống trị, cơ chế quyền lực cha truyền con nối, và các mối quan hệ giới tính không bình đẳng, chẳng hạn như tính tảo, nuôi nô tì, hôn nhân mua bán.

Nam giới dẫn dắt, bắt đầu từ việc đọc sách

Điều kỳ lạ là những người lúc đó ở Đài Loan đề xướng phong trào phụ nữ hoặc cho rằng cần thay đổi mối quan hệ giới tính lại chủ yếu là nam giới. Điều này khác với phong trào phụ nữ phương Tây, nơi phụ nữ là chủ thể, phát triển dựa trên nhận thức của chính họ. Ở châu Á, phong trào phụ nữ chủ yếu được các nhà trí thức nam giới giới thiệu, đề xướng rồi học tập, bắt chước. Có thể thấy trên tờ "Đài Loan Dân Báo" những bài viết của nam giới này, họ giới thiệu những tiến bộ của phương Tây, các làn sóng tư tưởng, kể về mối quan hệ giới tính lý tưởng trong tâm trí họ, truyền đạt những ý tưởng này cho phụ nữ Đài Loan và kích thích nhận thức của họ.

Thế nào là "giải phóng"? Đó là giải thoát con người khỏi sự ràng buộc, giúp họ phát triển tiềm năng của bản thân; là giúp phụ nữ thoát khỏi những mối quan hệ giới tính bị xáo trộn, cơ cấu gia đình áp bức, giải phóng năng lực của họ. Ban đầu, những nam giới này tự phản tỉnh rằng họ nên cung cấp cơ hội học tập cho phụ nữ. Lấy những nước ngoài làm gương, họ cho rằng khi phụ nữ được đào tạo, được trang bị những khả năng đầy đủ, họ không chỉ có thể phát huy năng lực, tự phát triển mà còn có thể đóng góp cho công cộng. Mặt này, họ tự phản tỉnh lại về chế độ gia đình truyền thống Đài Loan; mặt khác, họ tham chiếu tình hình các nước khác để xác định các mục tiêu cần theo đuổi.

Lúc này, nhiều tổ chức phụ nữ cũng bắt đầu xuất hiện, và ở phía sau có thể đều nhận được sự hỗ trợ hoặc khuyến khích từ Hiệp hội Văn hóa Đài Loan, chẳng hạn như khi tổ chức vừa thành lập, được Hiệp hội Văn hóa hỗ trợ tài chính, tuyên truyền, hoặc hỗ trợ các hoạt động thuyết trình. Các hoạt động chính của những tổ chức này là hướng dẫn phụ nữ đọc sách, ví dụ như nhóm đọc sách của Hội Chung Khích Phụ Nữ Chương Hóa, hay các hoạt động khác như học tiếng Nhật, thảo luận về phong trào giải phóng phụ nữ nước ngoài, hay mời người đến thuyết trình.

Lúc đó, giáo dục mới thức đã được nhà nước triển khai, dù số lượng học sinh còn rất ít, nhưng phụ nữ đã có cơ hội được học tập. "Giải phóng phụ nữ" thực ra chỉ là một chủ đề thứ yếu trong các phong trào xã hội thời bấy giờ, được những phụ nữ có học thức, trình độ trung học hoặc cao đẳng nữ quan tâm, số lượng những người tham gia không nhiều. Một số nữ sinh trường cao đẳng nữ bị cuốn hút bởi các tiếng gọi giải phóng phụ nữ, họ có khả năng trí tuệ, thậm chí có thể tham gia vào các luận điểm, trở thành tiên phong của phong trào giải phóng phụ nữ. Ngoài ra, những phụ nữ Đài Loan ở các thành phố tiên phong trong phong trào phụ nữ như Tây Ban Nha và Thượng Hải sẽ truyền đạt tình hình phong trào phụ nữ ở những thành phố này cho xã hội Đài Loan thông qua các tờ báo.

Những nhân vật tiêu biểu: Thái A Tín, Tạ Tuyết Hồng

Khi nói đến những nhân vật tiêu biểu của phong trào giải phóng phụ nữ thời bấy giờ, PGS.TS Trần Thúy Liên đặt Thái A Tín ở vị trí hàng đầu. Thái A Tín không phải là một người theo chủ nghĩa nữ quyền, mà là một phụ nữ có kiến thức và chuyên môn, do vậy có khả năng quản lý cuộc sống của bản thân. Chồng bà là Bành Hoa Anh, một người ủng hộ phong trào giải phóng phụ nữ, còn Thái A Tín là một phụ nữ độc lập, tự chủ thành công. Sự kết hợp này khiến PGS.TS cảm thấy rất thú vị, bởi mặc dù chồng bà là người đề xướng giải phóng phụ nữ đầu tiên, nhưng khi vợ trở nên độc lập, sự nghiệp thành công, thậm chí đạt được những thành tựu cao hơn chồng, ông ta lại cảm thấy xấu hổ vì những lời chế nhạo từ bạn bè và họ hàng, chịu áp lực lớn, cuối cùng hai người kết thúc bằng ly hôn.

Qua ví dụ này có thể thấy rõ những hạn chế của phong trào giải phóng phụ nữ thời bấy giờ: khi kháng cự lại xã hội truyền thống và quyền lực cai trị, họ nỗ lực đấu tranh vì bình đẳng, nhưng khi trở về nhà, lại áp dụng những tiêu chuẩn khác. Ngay cả những nhà trí thức như Bành Hoa Anh cũng không thể thoát khỏi bầu không khí xã hội rằng "vợ nên đóng vai trò là người hỗ trợ, giúp đỡ chồng". Chuyên môn và danh vọng của Thái A Tín lại tạo áp lực lớn cho ông. Theo PGS.TS, đó là vì xã hội Đài Loan thời bấy giờ chưa kịp bước theo với Thái A Tín.

Một nhân vật tiêu biểu khác là Tạ Tuyết Hồng. Tạ Tuyết Hồng cũng không phải người theo chủ nghĩa nữ quyền, bà xuất thân từ những hoàn cảnh khó khăn, nhưng với tính cách tìm kiếm độc lập tự chủ, bà đã nỗ lực từ những tầng lớp dưới, vượt qua những khó khăn, tích cực tham gia các phong trào kháng cự. Tuy nhiên trên chính trường, nhiều đồng chí nam giới không tán thành bà, cho rằng tại sao phải chấp nhận sự lãnh đạo của một phụ nữ chưa được đào tạo chính thức? Mặc dù những nam giới này là những người đấu tranh xã hội chính trị ủng hộ bình đẳng và giải phóng, nhưng khi phải đối mặt với sự thay đổi chính mình, lại không nhất thiết có thể thực hiện được.

Ngoài ra còn có những nữ hoạt động xã hội khác khá nổi bật, ví dụ như vợ của Ông Hồ Sinh là Tạ Ngọc Hòa, do không sẵn lòng chịu đựng dưới sự cai trị của Nhật Bản, nên đã chạy sang Trung Quốc để hoạt động, dùng bút danh "Ngọc Chim Cuốc" để đăng bài trên tờ "Đài Loan Dân Báo". Giản Tốt là học sinh của trường Cao Đẳng Nữ, vì chịu ảnh hưởng từ thầy giáo Giản Cát nên tích cực tham gia vào phong trào nông dân, là một phụ nữ trí thức hành động theo lời nói của bản thân.

PGS.TS. Trần Thúy Liên dễ dàng lấy ra nhiều tài liệu và chia sẻ với chúng tôi những câu chuyện về phụ nữ Đài Loan những năm 1920 cũng như sự phát triển của phong trào phụ nữ.

Mục tiêu của phong trào giải phóng phụ nữ

Từ những ví dụ trên có thể thấy rằng phong trào giải phóng phụ nữ thời bấy giờ có yêu cầu là để phụ nữ được học tập, không còn bị áp bức, nhưng thực chất mong muốn của nó lại là tạo ra "phụ nữ lý tưởng trong tâm trí nam giới". Nhà học Hồng Uyển chỉ ra rằng mặc dù phong trào giải phóng phụ nữ thời Nhật trị có yêu cầu nâng cao kiến thức và tu dưỡng văn hóa của phụ nữ, nhưng khả năng cải tạo mối quan hệ giới tính trong toàn xã hội lại khá hạn chế. Trong một xã hội do nam giới lãnh đạo, phụ nữ tiến bộ lý tưởng phải được học tập, có tu dưỡng văn hóa, mới đủ điều kiện để kết đôi với nam giới có kiến thức, giáo dục cho thế hệ tiếp theo xuất sắc hơn, cùng nhau kiến tạo một gia đình có văn hóa.

Kiến thức quản lý gia đình mà phụ nữ hiện đại cần học bao gồm quân cảnh gia đình, dinh dưỡng học v.v. Còn ở Đài Loan lúc bấy giờ là thuộc địa, lại cần thêm một kỹ năng nữa, đó là khả năng sử dụng ngôn ngữ quốc gia (tiếng Nhật), để có thể cùng chồng tham gia vào các vòng xã giao của giới thượng lưu.

Từ góc độ phụ nữ, cũng có thể nhìn thấy tính chất phức tạp của sự cai trị thuộc địa. Để tiếp dục những công dân lý tưởng, tổng độc phủ đã thúc đẩy phong trào giải phóng chân nữ, khuyến khích nữ học tập và phổ biến thể thao, nhưng những trạng thái lý tưởng mà nó xác định chỉ dừng lại ở việc nâng cao kiến thức lên một mức độ nhất định, tu dưỡng văn hóa, và phải ngặt lại những ý thức kháng cự phát sinh từ việc tiếp thu kiến thức.

Đến thời kỳ chiến tranh, không chỉ phong trào phụ nữ dân gian mất đi không gian hoạt động, nhà nước còn bắt đầu yêu cầu phụ nữ đóng vai trò "Mẹ của quốc gia quân sự, phụ nữ Đại Hòa", với sự hy sinh, cống hiến. Sau chiến tranh, chính phủ Quốc Dân Đảng cũng chủ yếu lãnh đạo phong trào phụ nữ một cách mạnh mẽ. Những tiếng nói thực sự phát xuất từ phụ nữ, để tranh đoạt quyền lực, nâng cao địa vị, có lẽ phải đến những năm 1970, khi xã hội tương đối ổn định, phụ nữ đạt được trình độ kiến thức cao hơn, những tiếng nói này mới dần dần xuất hiện trở lại.

Áp bức giao thoa nhiều chiều

Dưới sự cai trị thuộc địa, phong trào phụ nữ phải đối mặt với tình huống phức tạp, một mặt phải đối mặt với những kẻ bảo vệ giá trị truyền thống xã hội Đài Loan, họ tỏ ra cực kỳ phản cảm với các ý tưởng về giải phóng phụ nữ, bình đẳng giới, tự do tình yêu; mặt khác, vì giải phóng phụ nữ cũng là một trong những yêu cầu của Hiệp hội Văn hóa Đài Loan, nên đối với những người cai trị, nó đều thuộc về các phong trào chống đối. Vì vậy, phong trào này bị kẹp giữa hai lực lượng - một bên chịu sự phản đối từ xã hội truyền thống, mặt khác bị người cai trị thuộc địa dập tắt.

Những biện pháp đàn áp thường được người cai trị sử dụng là khi các hoạt động động viên phát sinh những vấn đề tình cảm, họ lợi dụng phương tiện truyền thông nhà nước để tấn công cuộc sống riêng tư, gọi đó là "tội vô liêm sỉ", xấu xí hóa hình ảnh của những người hoạt động, đây là một phương pháp hiệu quả để thu được sự tán thành của đại chúng.

Chẳng hạn như "sự kiện tình yêu" của Hội Chung Khích Phụ Nữ Chương Hóa, tờ "Đài Loan Nhật Báo" đại diện cho quan điểm của chính quyền, và tờ "Đài Loan Dân Báo" do Hiệp hội Văn hóa phát hành đã bắn nhau, tiếp tục đưa tin trong vài tháng liên tiếp. Trong đó, "Đài Loan Nhật Báo" chỉ ra rằng sự kiện bỏ trốn kết hôn này đã làm hỏng lề thói xã hội, là lỗi của Hiệp hội Văn hóa, thành công kích động sự phản cảm của đại chúng, gây tổn thương rất lớn cho phong trào giải phóng phụ nữ lúc đó, Hội Chung Khích Phụ Nữ Chương Hóa cũng sụp đổ hoàn toàn sau sự kiện này.

Do một trong những nhân vật chính của sự kiện là con trai của địa chủ hương sĩ Dương Cát Thần là Dương Anh Kỳ, nên tình hình trở nên càng phức tạp và khó xử. Mặc dù phe cai trị cũng có nam giới bị cuốn vào, nhưng kết quả chỉ có vài nữ thành viên của Hội Chung Khích Phụ Nữ Chương Hóa bị buộc thôi thành viên.

Khởi sắc nhận thức, phụ nữ tiến bộ

Phong trào giải phóng phụ nữ xã hội Đài Loan những năm 1920 vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn đề xướng, những người dẫn dắt tuyên truyền khá sôi động vẫn chủ yếu là nam giới, họ đưa khái niệm "giải phóng phụ nữ" vào xã hội Đài Loan. Tuy nhiên phụ nữ tiến bộ mà những đề xướng này tạo ra là những người được đào tạo ở trường cao đẳng nữ, có thể sử dụng tiếng Nhật, nhưng lại không kỳ vọng phá vỡ cấu trúc xã hội "nam ngoài nữ trong", điều này vẫn khác xa với khái niệm bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ mà chúng ta ngày nay hiểu được.

Cho đến hôm nay, so với các nước khác ở châu Á, phong trào phụ nữ và sự phát triển bình đẳng giới ở Đài Loan dường như khá sôi động, dẫn đầu, PGS.TS cho rằng đó là kết quả của quá trình dân chủ hóa khoảng 30 năm qua của Đài Loan. Phong trào phụ nữ, giống như các phong trào kháng cự khác, bị ảnh hưởng bởi môi trường và sự tích lũy kiến thức. Khi mọi người có kiến thức, bắt đầu muốn trở thành chính bản thân mình, thì sự kháng cự mới xuất hiện. Sau khi dân chủ hóa, phụ nữ Đài Loan có nhiều kiến thức và tài nguyên hơn, thông qua nỗ lực để đạt được địa vị xã hội; họ cũng có khả năng để bộc lộ quan điểm, xây dựng những mối quan hệ giới tính lý tưởng của chính họ.