Tàu, là phương tiện vận chuyển con người khám phá đại dương, là vật chất vượt biển thương mại. Là công cụ kết nối các nhóm dân tộc qua biển, các tộc người sớm có truyền thống đóng tàu. Ở Đài Loan, chúng ta có thể nhìn thấy những chiếc tàu gỗ độc đáo của người Dạo - người Yami, canô độc mộc của dân tộc Thảo, hay những con thuyền rồng của người Hán.
Tuy nhiên, so với những chiếc tàu làm chủ yếu từ gỗ kể trên, muốn thấy những con tàu thép khổng lồ "Sản xuất tại Đài Loan", phải bắt đầu từ thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng.
Bước ngoặt công nghệ: Chiếc "Thụy Dương Maru" toàn thép
Giai đoạn đầu thời Nhật Bản, hãng tàu Osaka định kỳ vận chuyển hàng hóa và thư từ từ Nagasaki hoặc Kobe đến cảng Keelung. Những thương gia địa phương Đài Loan thì thuê hoặc mua tàu nước ngoài để vận chuyển hàng. Chẳng hạn năm 1898, những nhà buôn nhang ở Dadaocheng gọi là "Nghĩa Hợp Hào" cùng gia tộc Lâm Phượng Ốc ở Wuqi gọi là "Vạn An Xá" góp vốn, đặt hàng tại một xưởng đóng tàu ở Hồng Kông để chế tạo chiếc "Phi Long Hào", dùng để vận chuyển nhang của cả hai gia tộc sang Hồng Kông bán hàng. Nhưng chúng ta không thấy những con tàu lớn "Đài Loan sản xuất" tham gia thương mại.
Cho đến giữa thời kỳ Nhật Bản, khi chính phủ Nhật thúc đẩy xây dựng các cảng ngày càng hoàn thiện, ngành công nghiệp đóng tàu Đài Loan mới bắt đầu phát triển từ nhu cầu sửa chữa tàu. Những xưởng đóng tàu tư nhân như "Phú Trọng" hay "Quy Trạch" được thành lập sau khi cảng Cao Hùng hoàn thành vào năm 1912.
Sau khi cảng Cao Hùng xây dựng xong, chính quyền lên kế hoạch xây dựng các nhà máy khác nhau, trong đó có xưởng đóng tàu.
Năm 1913, sau khi cảng Keelung được xây dựng, cũng thành lập một xưởng "Kimura Tekko" (Xưởng Sắt Kimura). Đây là xưởng sắt được thành lập vào năm 1916 bởi Kimura Kyutaro, với các nhà máy đặt tại Quỳ Tử Sơn và Tiên Động ở Keelung. Công việc chính của nó là chế tạo và sửa chữa các máy khai thác than cho các mỏ than ở Thụy Phương, nhưng đồng thời cũng có hoạt động đóng tàu. Lúc bấy giờ, nó có thể coi là xưởng sắt tư nhân lớn nhất.
Đến năm 1919, khi nền kinh tế toàn cầu suy thoái, Xưởng Sắt Kimura cũng bị ảnh hưởng và đối mặt với khủng hoảng phá sản. May mắn thay, Tổng Độc Phủ can thiệp hỗ trợ, sáp nhập xưởng tư nhân thành "Công ty Tàu Rạch Keelung", tiếp tục các hoạt động trước đó. Tuy nhiên, Công ty Tàu Rạch Keelung vẫn lỗ năm sau năm. Cuối cùng vào năm 1937, Mitsubishi Heavy Industries, Ngân hàng Đài Loan, Hãng tàu Osaka, và gia tộc Nhan Khâm cùng nhau đầu tư 3 triệu yên để mua lại, thành lập "Công ty Tàu Đài Loan".
Chân dung Kimura Kyutaro.
Vào lúc 10 giờ sáng ngày 5 tháng 12 năm 1938, tại đảo Sa Liêu (ngày nay là Đảo Hòa Bình) ngoài cảng Keelung, mọi người tập trung xung quanh một chiếc tàu thép toàn thép được chế tạo bởi Công ty Tàu Đài Loan – "Thụy Dương Maru". Trước đó, các chiếc tàu cơ bản đều làm từ gỗ. Chẳng hạn, năm 1910, Xưởng Đóng Tàu Đường Sắt Đài Loan từng sử dụng gỗ quỳ để chế tạo "Kim Bi La Maru" và "Phúc Hải Maru" để vận chuyển đường.
Tuy nhiên, khác với tàu hàng của Đường Sắt Đài Loan, "Thụy Dương Maru" đại diện cho một bước tiến vĩ đại trong công nghệ đóng tàu của Đài Loan. Đây là chiếc tàu đầu tiên của Đài Loan hoàn toàn tuân theo yêu cầu của quốc gia, mang công nghệ đóng tàu hiện đại vào Đài Loan. Việc sử dụng vật liệu thép toàn thép không chỉ là một bước tiến công nghệ lớn, mà còn thể hiện sức mạnh đóng tàu phi thường của Đài Loan. Sau đó, chiếc tàu này trở thành tàu vận chuyển của gia tộc Nhan ở Keelung, chạy qua lại trong cảng Keelung, là phương tiện vận chuyển quan trọng cho vật liệu công nghiệp như axit sắt.
Chiếc "Thụy Dương Maru" toàn thép sản xuất tại Đài Loan hiển dạng anh hùng trên biển.
Sau chiến tranh, ngành đóng tàu lấy lại tự tin: Tàu Cá Đài Loan 151 Hào
Năm 1945, Nhật Bản thất bại và rút khỏi Đài Loan. Chính phủ Quốc Dân đảng tiếp quản Công ty Tàu Đài Loan và đổi tên thành Công ty Đóng Tàu Đài Loan (gọi tắt là Tàu Đài). Do những kỹ sư Nhật Bản rời đi, Công ty Tàu Đài bị thiếu nhân tài. Vì vậy, chính phủ quyết định bổ sung các cấp quản lý từ Ủy ban Tài Nguyên, điều động kỹ sư từ Nha Chuẩn Bị Công ty Đóng Tàu Trung Ương tại Thượng Hải. Vận hành công ty gặp nhiều vấn đề về sắp xếp nhân sự và tích hợp kỹ thuật.
Đến tháng 7 năm 1951, sau quá trình điều chỉnh và khó khăn, Công ty Tàu Đài cuối cùng chế tạo được một chiếc tàu đánh cá vẫng thuyết hỗn hợp thép gỗ, bền bỉ và chịu được điều kiện biển khơi. Chiếc "Tàu Cá Đài Loan 151 Hào" này được sản xuất toàn bộ theo tiêu chuẩn tàu đánh cá mới của Hiệp hội Kiểm nghiệm Tàu Anh-Mỹ, sẽ được sử dụng cho hoạt động đánh cá cá ngừ đại dương của Công ty Con Nông Lâm Thủy Sản. Kinh nghiệm đóng tàu "dựa vào chính mình" thành công này như một viên định tâm, không chỉ nâng cao quyết tâm phát triển ngành đánh cá đại dương của Đài Loan, mà còn mở ra sự tự tin của quốc gia trong việc xây dựng những chiếc tàu lớn.
Nhập khẩu công nghệ đóng tàu lớn từ Mỹ: Tàu Tín Ngưỡng
Năm 1955, chiến tranh Trung Đông bùng nổ, giá dầu lên cao, giá vận chuyển tăng vọt. Chi phí vận chuyển dầu quốc tế quá cao, nhiều tàu chở dầu bị dừng hoạt động. Công ty Dầu Mỏ Trung Quốc (Trung Nước) cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, họ nhờ Đoàn Mua Sắm Đặc Phái Viên Mỹ tham khảo khả năng thuê tàu chở dầu từ Mỹ. Sau nhiều lần đàm phán, Đoàn Mua Sắm Đặc Phái Viên Mỹ đạt được thỏa thuận với Công ty Ingalls của Mỹ: Ingalls sẽ thuê xưởng và nhân lực của Công ty Đóng Tàu Đài Loan để chế tạo những tàu chở dầu khổng lồ mới. Điều này không chỉ giảm chi phí sản xuất mà còn giải quyết vấn đề mà Trung Nước đang gặp phải.
Ngày 7 tháng 11 năm 1956, trong phòng làm việc của Bộ trưởng Bộ Kinh tế Giang Tiêu, đại diện Ingalls và Tổng Giám Đốc Công ty Đóng Tàu Đài Loan hoàn tất ký kết hợp tác trước sự chứng kiến của nhiều quan chức cao cấp. Phương án hợp tác đại thể như sau: Ingalls thành lập "Công ty Đóng Tàu Đài Loan Ingalls", thuê xưởng và nhân viên của Công ty Đóng Tàu Đài Loan trong 10 năm, đưa vào 2,1 triệu đô la Mỹ thiết bị và máy móc, đồng thời chế tạo hai chiếc tàu chở dầu khổng lồ 32.500 tấn. Đây thực sự là một cơ hội hiếm có cho Đài Loan, nước có quyết tâm bước vào ngành công nghiệp đóng tàu.
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Đóng Tàu Đài Loan Chu Mộu Bạch nói: "Chúng tôi tin rằng nhờ hợp tác lần này với Công ty Đóng Tàu Đài Loan, chúng tôi có thể đưa những công nghệ đóng tàu mới nhất và phương pháp quản lý tiên tiến vào Trung Quốc Tự Do, giúp Trung Quốc Tự Do có sự phát triển mới trong ngành công nghiệp đóng tàu trong tương lai."
Năm 1959, chiếc tàu chở dầu khổng lồ 36.000 tấn đầu tiên của Công ty Ingalls-Đài Loan cuối cùng được hoàn thành. Vào ngày lễ hạ thủy, phu nhân của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ingalls Ge Gu Sen cầm chai champagne buộc dải ruy băng đỏ-xanh-trắng hướng tới mũi tàu, rồi dùng sức mạnh đập chai xuống mũi tàu. Thủy tinh vỡ vụn, rượu tràn ra, ngay lúc đó cổng xíc của xưởng đóng tàu từ từ mở ra, nước biển ồ ạt chảy vào, toàn thể vang lên tiếng reo hoan và vỗ tay nồng nhiệt. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Đóng Tàu Đài Loan tự hào nói: "Những công việc hàn điện mà nhân viên Trung Quốc chúng tôi thực hiện khi chế tạo tàu Tín Ngưỡng thật sự tốt hơn những gì người Nhật Bản làm."
Một năm sau, tàu "Tín Ngưỡng" trở về Công ty Ingalls-Đài Loan.
Trong một thời gian, các tờ báo chí khắp Đài Loan đều sôi nổi thảo luận về tàu Tín Ngưỡng và Công ty Ingalls-Đài Loan. Ngành công nghiệp đóng tàu dưới sự phổ biến của các phương tiện truyền thông dường như có triển vọng vô hạn. Lúc đó chẳng ai nghĩ rằng sự "hữu nghị Trung-Mỹ" này không kéo dài lâu. Trong khi chiếc tàu tiếp theo "Tự Do Hào" đang tiếp tục được xây dựng, Công ty Ingalls-Đài Loan bất ngờ công bố thông tin lỗ khổng lồ. Hai năm sau, Công ty Ingalls-Đài Loan phải tuyên bố giải thể do các vấn đề nợ nần, chuyển giao lại cho Công ty Đóng Tàu Đài Loan quản lý. Lúc đó, Bộ Kinh tế lên tiếng giải thích rằng vì chiến tranh Trung Đông kết thúc, nhu cầu tàu phát sinh do chiến tranh cũng không còn nữa, do đó các hoạt động đóng tàu bị trễ nải, đó là nguyên nhân Công ty Ingalls-Đài Loan giải thể.
Giấc mơ đóng tàu lớn của sự hợp tác Trung-Mỹ này chỉ thực hiện được nửa đường. Cuối cùng, Công ty Ingalls-Đài Loan để lại những khoản nợ khổng lồ và vấn đề tiền lương của nhân viên, do Công ty Đóng Tàu Đài Loan tự từ từ xử lý.
Tàu chở dầu lớn nhất trong lịch sử đóng tàu Đài Loan: Tàu Bắc Mã Nổ Lực
Mặc dù từng trải qua cơn ác mộng của Công ty Ingalls-Đài Loan, nhưng quyết tâm phát triển ngành đóng tàu của chính phủ không có dấu hiệu rút lui.
Năm 1965, Công ty Đóng Tàu Đài Loan ký hợp đồng với đối tác ngày xưa "Công ty Công Nghiệp Nặng Ishikawajima-Harima". Công ty Ishikawajima sẽ cung cấp bản thiết kế và phương pháp sản xuất, điều động kỹ sư tới Đài Loan hỗ trợ đóng tàu. Sau khi tàu được bán, cả hai công ty sẽ chia sẻ lợi nhuận.
Theo sự ký kết hợp đồng, Tổng Giám Đốc Công ty Đóng Tàu Đài Loan Vương Tiên Đăng tổ chức nhân viên Công ty Đóng Tàu Đài Loan, dưới sự hỗ trợ của Công ty Ishikawajima, lên kế hoạch và chuẩn bị "Công ty Đóng Tàu Trung Quốc" tại Cao Hùng. Khác với Công ty Đóng Tàu Đài Loan ở Keelung bị giới hạn trọng tải, Công ty Đóng Tàu Trung Quốc ở Cao Hùng sẽ chịu trách nhiệm sửa chữa và xây dựng những chiếc tàu trên 200.000 tấn. Dự án này cũng được đưa vào "Mười Dự Án Trọng Điểm", và như vậy xưởng đóng tàu lớn thứ hai thế giới ra đời tại Đài Loan.
Năm 1973, Công ty Đóng Tàu Trung Quốc chính thức thành lập. Nó nhập khẩu vốn từ Công ty Gasco của Mỹ, và theo yêu cầu của Công ty Gasco, chế tạo những chiếc tàu chở dầu cực khổng lồ hiếm có trên thế giới. Việc làm này còn được Hiệp hội Kiểm nghiệm Tàu Lloyd's của Anh Quốc (cơ quan uy tín kiểm nghiệm tàu thế giới) công nhận, đưa Đài Loan vào danh sách những nước đóng tàu lớn của thế giới.
Tháng 6 năm 1977, chiếc tàu khổng lồ được Công ty Gasco đặt hàng hoàn thành, và được Công ty Dầu Paramountus mua lại, đặt tên là "Tàu Bắc Mã Nổ Lực". Tàu Bắc Mã Nổ Lực là chiếc tàu lớn nhất trong lịch sử đóng tàu Đài Loan. Nó lớn cỡ nào? Chiều dài 378,4 mét, bằng chiều cao của Tòa nhà 85 Cao Hùng. Chiều rộng 68 mét, tương đương với chiều rộng của một sân bóng đá chuẩn; mớn nước 25 mét, chiều cao tàu 72,7 mét, tổng chiều cao tương đương một tòa nhà 32 tầng. Chiếc tàu khổng lồ này không chỉ là thứ nhất ở Đài Loan mà còn là những chiếc tàu lớn hàng đầu thế giới.
Tàu "Bắc Mã Nổ Lực" được kéo ra khỏi xưởng bởi tám tàu kéo lớn.
Ở một đất nước bốn phía biển như Đài Loan, từ thời kỳ Nhật Bản cho đến thời kỳ Chính phủ Quốc Dân Đảng, ngành công nghiệp đóng tàu được xem như là đại diện của công nghiệp nặng tiên phong, và được phát triển dưới sự hỗ trợ của quốc gia, liên tục nhập khẩu công nghệ và kinh nghiệm nước ngoài. Mặc dù sự can thiệp của quốc gia vào ngành công nghiệp đóng tàu không nhất thiết phù hợp với nhu cầu thị trường, nhưng nó thực sự phát huy tác dụng tích hợp các tài nguyên trong nước và ngoài nước, dẫn dắt phát triển công nghệ Đài Loan. Tuy nhiên, nếu không có quy hoạch hoàn chỉnh, thì khó có thể phán xét đúng sai.
Dù như thế nào đi nữa, điều chắc chắn là những chiếc tàu không chỉ vận chuyển con người và hàng hóa trong giao thương quốc tế, mà do tính chất phức tạp của ngành công nghiệp đóng tàu, chính việc đóng tàu đã tạo ra khả năng giao thương quốc tế. Thông qua đóng tàu, chúng ta có thể nhìn thấy mối liên hệ giữa Đài Loan và thế giới. Những chiếc tàu lớn ra vào cảng, quá khứ như vậy, tương lai cũng sẽ như vậy.



